Feeds:
Posts
Comments

30/07/2011 09:37:30

’Tôi không thể bắt buộc mọi người phải yêu quý tôi. Tôi cũng không phủ nhận chuyện đó cũng tác động đến gia đình tôi trong một thời gian. Thật may cuối cùng nó cũng qua’, Hồng Ánh trần tình về sự cố blogger Sao Việt tố chuyện riêng của chị đúng thời điểm chị ứng cử đại biểu quốc hội.

Sai lầm đôi khi là cần thiết trong nghề nghiệp

Đầu tiên, chị hãy nói về dự án làm phim ngắn tuyên truyền an toàn giao thông “89.600km+” … vì nghe nói nó có những trục trặc?

Ngày 28/7 chúng tôi bấm máy phim ngắn thứ ba sau khi bị hỏng mất 2/5 kịch bản. Một nhóm buộc phải lập biên bản hủy dự án và bị thất thoát một khoản tiền không nhỏ. Dự án thứ hai do đạo diễn chủ động xin rút lui vì không hình dung ra khối lượng công việc cũng như áp lực khi tham gia dự án. Lý do vì các bạn suy nghĩ thiếu nghiêm túc, làm chăng hay chớ nên hiệu quả công việc không tốt, cùng sự thiếu kinh nghiệm trong khi cái tôi lại quá lớn nên cuối cùng những dự án đó đổ bể.

Dù tôi đã cố gắng hết sức mời những diễn viên chuyên nghiệp tham dự như Khương Ngọc, Quách Ngọc Ngoan… nhưng sự thiếu chuyên nghiệp, thiếu tế nhị của các bạn trẻ đã khiến người trong cuộc tự ái và cảm thấy bị xúc phạm. Đôi khi chuyện tài năng không thôi cũng chưa đủ, mà còn phải hòa nhập với văn hóa bản địa nữa. Nói chung là rất rất nhiều vấn đề mà tôi có ngồi kể đến sáng cũng không hết được.

2/5 dự án đổ bể thì tỉ lệ cũng đến 40%, một con số không ít, lỗi của chị cũng không nhỏ?

Đúng vậy, tôi đâu có chối đâu. Tôi vẫn nói với nhân viên của mình rằng lỗi trong dự án thì khách quan, chủ quan đều có nhưng lỗi của người quản lí là không thể trốn tránh được, trực tiếp là tôi quản lí dự án không hiệu quả. Đầu tiên là tôi thiếu nhạy cảm, thiếu chính xác khi chọn đạo diễn. Với một dự án nhỏ đầu tay thì tỉ lệ sai sót như vậy là khá cao, nhưng cũng may là những đơn vị tài trợ tài chính cho dự án không đặt quá nặng về tiến độ thời gian thực hiện, mà quan trọng là chất lượng sản phẩm làm ra. Bản thân tôi thấy đó là những bài học cần thiết về quản lý con người.

Có khi nào vì chị đánh giá mọi chuyện quá đơn giản, trong tầm tay mình và cũng vì chị quá ôm việc nên mọi chuyện xảy ra như vậy?

Tôi không đánh giá đơn giản mà chính xác là đặt hy vọng hơi quá sức vào các bạn trẻ khi mà họ còn quá thiếu kinh nghiệm. Nếu lấy một đội ngũ thiện chiến thì công ty của tôi không đủ khả năng, cái tôi cần là con người siêng năng, đam mê nhưng ngoài vấn đề kinh nghiệm thì trong các bạn trẻ có một số bạn ảo tưởng.

 

Vậy còn chị, chị có ảo tưởng về khả năng của mình sau một chuyến du học nước ngoài?

Không quá ảo tưởng nhưng có một số vấn đề tôi nắm chưa vững. Ví dụ như truyền thông cho dự án hoặc không tính phương án back-up cả về con người lẫn tiến độ dự án. Vấn đề mà tôi thấy an tâm và dễ nhất lại là tài chính. Chính bản thân tôi cũng xác định tôi sẽ không là thầy mà là bạn và vẫn ngồi cùng các bạn trẻ sau mỗi bộ phim quay xong.

Chúng ta sẽ nói về vở “Hãy khóc đi em” – vở kịch mới nhất của sân khấu Hoàng Thái Thanh chuyển thể từ truyện ngắn “Trăng nơi đáy giếng” của Trần Thùy Mai – và chị sẽ tái diễn vai Hạnh chứ?

Không, trong vở kịch này tôi sắm vai Thắm – người vợ hai. Lí do đơn giản là nếu khán giả đến xem vai Hạnh là điều bình thường, là sở trường, nó không khác lắm so với vai diễn của tôi trong Nửa đời ngơ ngác. Vai Thắm kích thích và làm tôi thú vị hơn khi đóng vai Thắm cho dù tôi biết nếu tôi đóng vai Hạnh, tôi sẽ có thêm một lượng khán giả vì dù sao đó cũng là một dạng vai sở trường của tôi.

Không đánh đổi để có vai diễn khác thường

Hình như chị đang chờ đợi và háo hức với những vai diễn ngược lại với các tuyến nhân vật chịu thương chịu khó đã xây dựng bao nhiêu năm qua?

Chẳng phải bây giờ mà đã từ rất lâu rồi. Nói để bạn biết tôi từng đi casting cho Những cô gái chân dài, Ba mùa (cho vai cô gái điếm) và mới nhất là Long Ruồi (vai diễn của Phi Thanh Vân). Đơn giản là vì tôi tự tìm cho mình sự thay đổi chứ không thể ngồi đợi được, trừ khi tôi tự làm phim cho chính mình. Nhưng sau khi đi casting tôi mới phát hiện ra khi người ta mời tôi chỉ là một phương án dự phòng và cũng là một kênh để tiếp xúc với một gương mặt đã quen thuộc mà trước đó chưa từng có cơ hội làm việc cùng.

Đạo diễn có thể an toàn khi không chọn chị cho vai diễn kiểu vậy, nhưng bản thân chị cũng không quyết liệt khi không làm mọi cách (không phải thủ đoạn) để có được vai diễn đó?

Đạo diễn hay êkip cũng phải cân nhắc nhiều lắm về những giá trị khác của diễn viên mang lại bên cạnh chuyện nghề. Tôi không phải là cái tên của các event, của truyền thông, của thị trường, ít cập nhật những bộ ảnh mới. Con đường tôi đi rất bình thường hơn nữa tôi cũng không thể nào làm được những điều như bạn nói, nó thuộc về tính cách. Tôi chỉ chờ đợi khi đạo diễn và cả tôi cùng ý thức được cả hai bên cùng làm mới chứ không thể theo cách tấn công đạo diễn, làm mọi chiêu trò.

Tôi biết có những người chấp nhận mổ xẻ cơ thể mình như nâng ngực, sửa này sửa kia để có thể nhận được vai diễn, nhưng tôi thì không. Tôi chỉ có thể làm mình béo lên hoặc gầy đi, cạo trọc hoặc làm mặt sẹo, làm mặt già nua xấu xí đi chứ những việc tác động vào cơ thể như vậy tôi chịu thua thôi. Tôi không lên án họ mà chỉ nói mình không thể quyết liệt được như vậy.

Nhưng bản thân chị cũng rất mâu thuẫn khi muốn phá cách nhưng vẫn nhận vai diễn “một màu” giống như chị từng đóng trước đây?

Quyết liệt với vai diễn và cả nể cũng là tôi, điều này tôi đã nhấn mạnh trong các bài trả lời phỏng vấn trước đây rồi (cười). Có những vai diễn tôi nhận lời vì quan hệ cá nhân nhiều hơn là vì tôi cần vai diễn đó. Nhuệ Giang trở lại với Hồng Ánh bởi vì cũng có nhiều người từ chối và tôi không thể từ chối được vì chị Giang chờ tôi quá lâu, và bản thân chị cũng không thể tìm được một diễn viên nào khác. Bây giờ người ta dễ dàng làm phim chiếu rạp với khả năng thu hồi vốn nhiều hơn là những bộ phim kiểu như Tâm hồn mẹ. Có vào trường hợp của tôi bạn mới hiểu được vì sao tôi không thể từ chối.

Chị có ý thức được chính sự cả nể đó đang giết chết tên tuổi của chị bởi sự cũ mòn lặp lại nếu chị không dừng lại sự cả nể?

Chắc chắn sẽ có lúc nào đó tôi phải dừng lại, nhưng chính trong những vai diễn như trong Tâm hồn mẹ thì tôi vẫn có sự tìm tòi mới, sự khác đi của người mẹ khi đó là một bà mẹ, hồn nhiên, bản năng, sống mạnh về ham muốn tình dục. Đây là phim tôi khỏa thân khá nhiều, thậm chí nhiều nhất trong các phim tôi tham gia từ trước đến giờ. Nó sẽ khác những Đời cát, Thung lũng hoang vắng, Trái tim bé bỏng… Bạn hãy đợi phim ra rồi sẽ thấy sự khác biệt đó.

Cởi đồ nhiều trong phim nhưng chưa ai gọi là “quả bom sex”

Chị cũng là diễn viên chịu khó cởi đồ nhất trong phim và chị không ngại nếu bị gán biệt danh “Diễn viên thích nude”?

Đúng là theo tổng hợp thì tôi cởi đồ trên phim khá nhiều, nhưng may mắn là tôi chưa bao giờ bị xếp vào hàng “quả bom sex” hay kiểu như mọi người trông đợi ở một thân hình sexy. 16 năm với nghề chắc chắn mình sẽ già cỗi và cũ kỹ, thử thách khó khăn vô cùng lớn. Con người thì vẫn vậy nhưng vẫn phải băn khoăn làm mới và tôi thấy tôi hợp với những dạng vai như rất quái đản, hoặc rất hài hước hoặc dị dạng méo mó về tâm hồn sẽ khiến khán giả hào hứng đón xem hơn là những vai chịu thương chịu khó. Tôi không chê dạng vai đó nhưng hiện tại cũng có những diễn viên mới có thể đáp ứng được dạng vai đó. Bạn phải biết là tôi đã từ chối nhiều lắm những vai diễn bà, mẹ chịu thương chịu khó như thế.

Chị có biết chuyện chị ứng cử đại biểu quốc hội cũng khiến nhiều ý kiến cho rằng chị là một người phụ nữ tham vọng? Chị có thất vọng khi chị không trúng cử?

Tôi không tham có vọng chính trị lớn như vậy đâu. Tự dưng có một lời đề nghị và tôi thấy mình chẳng có lí do gì để từ chối khi mà nếu như tôi thất bại, tôi cũng chẳng mất gì cả. Nếu tôi được thì tôi có cơ hội có tiếng nói chính thống, không bị tam sao thất bản khi phải truyền tải qua ai với những bức xúc của tôi.

Nếu trúng cử thì những khó khăn nhất của tôi chính là mảng kiến thức hành pháp, lập pháp và kiến thức về xã hội. Nhưng qua chuyện này tôi thấy mình được nhiều hơn là mất. Chưa bao giờ tôi được đi nhiều, tiếp xúc đến những xã huyện xa xôi như vậy. Tôi ghi chép lại hết, thậm chí tôi còn nghĩ có thể mình sẽ làm một bộ phim về câu chuyện tôi ứng cử đại biểu quốc hội.

Chị có nghĩ những dư luận không tốt đợt đó chính là nguyên nhân khiến chị không trúng cử?

Không, tại vì phần lớn dân mình là lao động nghèo và đơn vị bầu cử tôi là Nhà Bè và Cần Giờ với đa phần người lao động nghèo, tivi điện nước còn chẳng có mà xem nói gì đến Internet. Tôi mừng lắm khi đi tiếp xúc cử chi, họ nhận ra tôi và đó là một cái thuận lợi một nghệ sĩ ra tranh cử. Tôi biết được những vùng sâu vùng xa, họ vẫn còn thiếu thốn về tinh thần lắm nên nghệ sĩ với họ rất quý. Văn hóa họ thiếu thốn nhưng nó vẫn không cấp bách bằng chuyện họ ăn gì, mặc gì hàng ngày.

 

 

Rồi sau chuyến đi đó, tôi nhận trợ cấp một em bé mỗi tháng vài trăm ngàn để em đi học. Tính ra cả năm thì số tiền bằng mấy xuất diễn của mình và tôi sẽ trợ cấp cho cậu bé đó đến năm 18 tuổi. Tôi sẽ cố gắng vận động những buổi khám chữa bệnh miễn phí, những buổi biểu diễn văn nghệ miễn phí ở những chỗ như thế. Tôi thấy đó cũng là một trải nghiệm quý giá đó chứ.

Nói trở lại trường hợp blogger Sao Việt và sự tác động trong trường hợp cụ thể là chị, chị muốn nói gì về chuyện này?

Tôi thấy nó là một biểu hiện dân chủ, tiếng nói đa dạng. Tôi không thể bắt buộc mọi người phải yêu quý tôi, nhưng cũng không thể phủ nhận một bộ phận khán giả, độc giả nhìn nhận tôi theo hướng đó. Tôi phân loại rõ ràng thể loại báo chí nào thì có đối tượng bạn đọc đó, và tôi cũng không phủ nhận chuyện đó cũng tác động đến gia đình tôi trong một thời gian. Thật may cuối cùng nó cũng qua.

(Theo CSTC)

SGTT.VN – Trong kỳ thi đại học vừa qua, điểm thi môn sử thấp một cách thảm hại. Nói chung chỉ độ 4% trên điểm trung bình. Nhiều trường có tới 99% điểm dưới trung bình, mà chủ yếu là điểm 0 và điểm 1. Có trường chỉ một thí sinh có điểm 5 là cao nhất. Vẫn biết chuyện dạy sử và học sử từ trước đến nay đã có nhiều vấn đề nhức nhối, nhưng một kết quả như năm nay thực sự làm cho xã hội xôn xao, và làm đau đầu các nhà quản lý giáo dục, các nhà sử học, các thầy giáo, học sinh và cha mẹ học sinh.

Đây là chuyện hết sức nghiêm túc, nên cũng phải nói với nhau rất nghiêm túc

Hãy coi trọng các giá trị tinh thần.

Học sử là nhận ra được biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử để mà biết làm người cho xứng đáng người, làm công dân độc lập, tự chủ, sáng tạo, đầy trách nhiệm của nước Việt và của thế giới.
Trong ảnh là giờ học môn Lịch sử của học sinh lớp 12A6, trường THPT Hùng Vương, Q5,TP.HCM (niên khoá 2010 -2011 – ảnh chỉ mang tính minh hoạ.
Ảnh: Trần Huy

Những biến chuyển thời đại đòi hỏi hơn bao giờ hết phải coi trọng khoa học xã hội nhân văn, trong đó có sử và môn sử (và cả môn văn nữa, mà kết quả vừa rồi cũng chẳng hay ho hơn mấy). Đứng trước những vấn đề như vậy, cách đây mấy năm, trường đại học Harvard của Mỹ đã rà soát lại toàn bộ chiến lược của họ, và nghiêm khắc nhận ra, mặc dù đã cố gắng rất nhiều, họ vẫn còn coi trọng chưa đủ các môn xã hội nhân văn và quyết chuyển hướng mạnh mẽ hơn nữa vào các môn ấy. Bởi vì đối với bất cứ xã hội nào, ở bất cứ thời đại nào, khi khoa học kỹ thuật công nghệ càng phát triển thì càng khẩn thiết hơn, chính khoa học xã hội nhân văn là hết sức cần thiết để giữ cái nền bền chắc cho xã hội và con người. Nó làm cho con người dẫu có khoa học công nghệ cao đến đâu, vật chất nhiều đến đâu, cũng vẫn còn là con người chứ không phải là những cái máy khô cằn, nhất là những cái máy chỉ biết hau háu làm ra tiền và nhai tiền.

Giữ cho nhân loại còn là nhân loại, chứ không là một đống những vật tinh xảo mà vô cảm và vô lương. Một xã hội quay lưng lại với các khoa học xã hội và nhân văn là một xã hội suy đồi.

Một nền giáo dục trong thực tế liệt khối C xuống hạng bét, để cho “chuột chạy cùng sào mới vào khối C”, là một nền giáo dục bế tắc. Và đừng nói rằng điều đó không liên quan gì đến tội ác gia tăng trong xã hội, và cả trong học đường, làm nhức nhối toàn xã hội. Tất nhiên, vấn đề ở đây lớn hơn vấn đề giáo dục, lớn hơn vấn đề của ngành giáo dục, nhưng muốn nói gì thì nói, ngành giáo dục phải chịu trách nhiệm chính. Bởi vì nó được sinh ra, xã hội bỏ tiền mồ hôi nước mắt ra nuôi nó, là để nó làm trước hết công việc ấy: giữ cái nền bình ổn lâu dài vững chãi cho xã hội, cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.

Quả đã đến lúc cần rà soát lại một cách căn bản toàn bộ chiến lược của nền giáo dục này; và câu hỏi căn bản, đầu tiên là: nó định chế ra máy hay đào tạo ra người? Nếu đào tạo ra người thì nhất thiết không vì bất cứ lý do gì có thể để mặc cho khối C lủi thủi như vậy, không thể coi kết quả thảm hại của thi sử năm nay là bình thường. Bởi vì đấy không chỉ là chuyện kết quả học sử, thi sử như thế nào, mà là dấu hiệu con người coi nhẹ các giá trị tinh thần và nhân văn!

Học sử là để có cái mà không bất cứ con chuột hiện đại nào nhấp ra được cho ta: nhận ra được biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử để mà biết làm người cho xứng đáng người, làm công dân độc lập, tự chủ, sáng tạo, đầy trách nhiệm của nước Việt và của thế giới.

Nhìn vào lõi của vấn đề.

Mấy hôm nay nhiều người đã bàn tán xôn xao về sự cố này, và nhiều ý kiến đã tập trung vào cách dạy và học sử. Chắc đều đúng. Tuy nhiên hình như cũng chưa đến lõi của vấn đề. Hẳn ai cũng biết trong các môn học ở trường hiện nay, bị học sinh sinh viên chán nhất, ghét nhất, do đó cũng học kém nhất, học một cách đối phó nhất, kết quả tất cũng tệ nhất là môn sử và môn văn – cùng một vài môn khác thuộc cái gọi là “chương trình cứng”. Vì sao? Rất đơn giản vì đó là những môn bị chính trị hoá nhiều nhất, nặng nề nhất! Chính trị chắc chắn không có gì là xấu, trái lại là khác. Học chính trị là quá cần thiết, và có thể dạy thật hay. Nhưng sử là sử, văn là văn, chính trị là chính trị, không thể và hoàn toàn không nên lẫn lộn, dùng cái này để làm cái kia, đem cái này làm công cụ cho cái kia. Mỗi môn có chức năng riêng không thể thay thế của nó để làm nên con người ra người.

Học sử, học văn như thế, thú thật đến tôi cũng chán ghét, và đi thi chưa chắc đã được 0,5 điểm như thí sinh tội nghiệp vừa rồi.

Gần đây, giáo sư Ngô Việt Trung, viện trưởng viện Toán học Việt Nam, đã nói rất thẳng thắn: Phải tách khoa học ra khỏi thế quyền. GS Hoàng Tuỵ thì nói: Phải “thế tục hoá”nền giáo dục của chúng ta. Ai cũng biết cuộc cách mạng về giáo dục ở châu Âu đưa đến nền giáo dục hiện đại rực rỡ ngày nay, là kết quả tuyệt vời của cuộc đấu tranh thế tục hoá giáo dục, giải phóng giáo dục ra khỏi kiềm chế lâu dài của nhà thờ. Cần hiểu lời Hoàng Tuỵ trong ý nghĩa đó.

Nhân nói chuyện sử, xin kể điều này, ở Pháp có một tổ chức do các nhà sử học độc lập lập ra, tên là CVUH (Comité de Vigilance face à l’usage public de l’histoire), có thể dịch là uỷ ban Cảnh giác đối mặt với việc đưa lịch sử ra sử dụng trong công chúng. Vậy đó, lịch sử luôn rất dễ bị lợi dụng, thậm chí bóp méo, cắt xén, cắt nghĩa tuỳ tiện bởi các thế lực khác nhau nhằm làm công cụ cho những mục đích phi lịch sử. Ở nhà trường, cảnh giác với lợi dụng này càng phải ráo riết hơn. Học lịch sử cũng tuyệt nhiên không cần nhớ thuộc lòng đến mụ mị bất cứ ngày tháng phiền phức và vô ích nào, khi chúng ta đang sống trong thời đại chỉ cần nhẹ tay nhấp chuột là ra tất cả. Học sử là để có cái mà không bất cứ con chuột hiện đại nào nhấp ra được cho ta: nhận ra được biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử, để mà biết làm người cho xứng đáng người, làm công dân độc lập, tự chủ, sáng tạo, đầy trách nhiệm của nước Việt và của thế giới.

NGUYÊN NGỌC

Nguồn: Sài Gòn Tiếp Thị

Đỗ Minh Tuấn

Nguồn: viet-studies

Giai thoại Trạng Quỳnh dùng mười đầu ngón tay vẽ mười con giun để chiến thắng trong cuộc thi vẽ con vật sau ba hồi trống có ẩn chứa mã số của trí khôn ngoan ứng xử Việt nam. Bản chất văn hóa của của chiêu thức đó là gì? Trong thời đại đổi mới và hội nhập có thể áp dụng những trí khôn kiểu Trạng Quỳnh để đưa đất nước đi lên không, hay đã đến lúc phải nói lời chia tay với thói biến báo linh hoạt kiểu khôn vặt đó?

Trò khỏa thân trí tuệ thông minh

Không phải ngẫu nhiên mà bao đời nay người dân Việt Nam lưu truyền giai thoại vẽ giun với một nụ cười khóai trá đầy hãnh diện trước giải pháp thông minh của Trạng Quỳnh khi giải bài toán các vua chúa đặt ra. Đây là một thắng lợi văn hóa đích thực, tôn vinh trí tuệ dân gian, cho phép người nông dân cười giễu tinh thần hàn lâm kênh kiệu của đám vua quan và nho sỹ khinh dân. Trạng Quỳnh nhúng mười đầu ngón tay vào nghiên mực không chỉ để vẽ giun, mà chính là để bôi xóa giễu cợt những quy phạm của triều đình, giống như đám trẻ con say mê graffic thích vẽ nguệch ngoạc lên tường những chỗ trang nghiêm nhất để khẳng định mình. Nhưng khi vẽ giun Trạng Quỳnh không phải là tín đồ của văn hóa Hip-hop chơi trò chơi “mỹ thuật tội lỗi” của đám người trẻ tuổi hôm nay, mà ông đã chơi trò khỏa thân trí tuệ một cách hợp pháp để lỡm những thế lực ra đề thi, lỡm cả những thí sinh thật thà chúi mũi vào vẽ những con rồng con phượng phức tạp, nhiêu khê.

Thế nhưng, chiến thắng của Trạng Quỳnh là một thắng lợi chính trị chứ không phải là một kỷ lục văn hóa. Trạng Quỳnh buộc những người tổ chức cuộc thi phải trao giải nhất cho mình vì ông biết tấn công vào cách ra đề mơ hồ của họ. Đây là chiến thắng của ông Trạng có tài biến báo ngôn từ, chứ không phải chiến thắng của ông Trạng có tài hội họa. Nếu đề ra yêu cầu vẽ con vật cụ thể nào đó sau ba hồi trống, thì Trạng Quỳnh không thể sử dụng sự láu cá của mình để giành phần thắng. Bí quyết của chiêu thức vẽ giun là cụ thể hoá theo hướng đơn giản đến cùng cực bài toán văn hóa để có thể hoàn thành nhanh nhất, giành lấy phần thắng. Có thể nói, giai thoại vẽ giun với nụ cười thỏa mãn của dân gian tiềm tàng trong đó cũng vô tình là lời tự thú về bản chất đơn giản hoá của tính linh hoạt Việt Nam.

Căn nguyên văn hóa của chiêu thức Trạng Quỳnh

Người Việt có lẽ là dân tộc linh hoạt nhất. Tính linh hoạt Việt Nam thường được trình bày như là một phẩm chất mang bản chất sáng tạo và phản giáo điều. Điều đó về cơ bản đúng, nhưng không bao quát hết bản chất văn hóa và tính chất hai mặt của phẩm chất này. Bản chất của tính linh hoạt đó là văn hoá Việt tạo cho mỗi cá nhân trong cộng đồng một khoảng trống tự do sáng tạo và định hình cái chung, tạo cho con người Việt nam một khoảng không bao la để triển khai sáng tạo cá nhân tham góp nhân cách và trí tuệ của mình vào tiến trình cụ thể hoá các chuẩn mực xã hội.

Trong đời sống, người Việt coi trọng tinh thần cụ thể. Thái độ coi trọng cái cụ thể xuất phát từ văn hóa trọng tình. Với người Việt, mỗi con người cụ thể, mỗi đồ vật cụ thể là một thế giới độc nhất vô nhị không thể nào thay thế cho nhau vì mỗi người mỗi vật đều bắt rễ sâu vào tình cảm cộng đồng theo một cách riêng. Vì thế, thằng Bờm lưu luyến mãi cái quạt mo cụ thể của mình kiên quyết không đổi cho phú ông lấy ba bò chín trâu xa vời trừu tượng. Bờm chỉ chịu đổi khi phú ông đưa ra một nắm xôi cụ thể gần gũi, nó có thể cầm ăn. Ca dao Việt Nam có không ít những câu khuyên con người ứng xử linh hoạt theo từng tình huống cụ thể. Phương châm “TÙY” “LỰA”, “LIỆU” ( “Tuỳ mặt đặt tên, tuỳ tiền biện lễ”, ” Lựa lời mà nói”,”Lựa gió xoay chiều”, “Liệu bò đo chuồng”, “Liệu cơm gắp mắm”…) là phương châm sống có bản chất thích nghi với cái cụ thể. Mỗi cá nhân phải tự mình thăm dò từng cái cụ thể để sáng tạo ra những giải pháp, nhưng ứng xử phù hợp nhất. Văn hoá Việt không áp đặt chi tiết những quy chuẩn đạo đức và thẩm mỹ, nó nhường cho cá nhân, cho khu vực địa lý và cho giới tính những mảnh đất sáng tạo riêng và chịu trách nhiệm với sáng tạo này.

Trong nghệ thuật, người Việt cũng giành cho cá nhân quyền sáng tạo tối đa trong những không gian ước lệ, những quy ước thoáng đãng. Người diễn viên trên sân khấu chèo là phù thuỷ không gian, anh ta làm công việc cụ thể hoá không gian trong dòng chảy thời gian. Anh ta vừa mới chia tay người yêu ở sân đình, lượn một vòng với vài câu hát và điệu múa, không gian ấy đã trở thành biển cả, núi cao. Theo động tác, lời ca, cái không gian cụ thể được cất giấu, tàng hình bỗng hiện diện sinh động trước mắt ta trên cái nền trắng của khoảng không ước lệ. Người nghệ sĩ Việt Nam khi chơi đàn trong dàn nhạc cũng có một khoảng tự do riêng như vậy-anh ta không bị câu thúc bởi các qui định chi tiết của tổng phổ như các nghệ sĩ phương Tây trong truyền thống của họ. Anh ta tuỳ ý biến báo, luyến láy, cụ thể hoá để bằng trực giác nghệ thuật tham góp vào âm thanh tổng thể của cả dàn nhạc. Tính ước lệ của tư duy nghệ thuật đã tạo khoảng không gian thoáng đãng cho người nghệ sĩ cụ thể hoá một cách sáng tạo, mỗi lúc một khác tuỳ theo cảm hứng, trực giác. Trực giác nghệ sĩ đã giúp anh ta thăm dò mỗi khoảnh khắc để tìm ra câu trả lời cụ thể cho giải pháp nghệ thuật. Cũng như trong cuộc đời không có mệnh lệnh chung, không có câu trả lời chung, có lý nhưng có tình, phép vua thua lệ làng – người nghệ sĩ Việt nam chỉ bị ràng buộc bởi những điểm hẹn nơi hội tụ những tự do sáng tạo cá nhân cho một hiệu quả chung.

Chính quyền năng tự do sáng tạo cái cụ thể mà văn hóa Việt đã trao cho mỗi cá nhân ấy đã trở thành cái xung năng văn hóa dẫn đến chiêu thức vẽ giun của Trạng Quỳnh. Như một nghệ sỹ chèo dùng vũ đạo cụ thể hóa khoảng không sân khấu thành núi non sông nước, Trạng Quỳnh đã dùng những ngón tay thay bút cụ thể hóa đề thi trừu tượng thành những con giun.

Phải tra vấn truyền thống linh hoạt biến báo

Bí quyết Trạng Quỳnh quả là đã từng phát huy tác dụng trong lịch sử. Trong các cuộc chiến tranh giành độc lập, để huy động sức mạnh toàn dân, chúng ta phải đơn giản hoá lý tưởng, cụ thể hoá các nhiệm vụ chính trị quân sự, loại trừ tối đa tính chất lý thuyết suông và mọi cách hình dung vấn đề quá phức tạp, cao siêu. Nhưng bí quyết Trạng Quỳnh cũng có mặt trái của nó là: thói quen cụ thể hoá, đơn giản hoá đã trở thành một truyền thống linh hoạt mang tính vô nguyên tắc, vô chính phủ, cản trở sự phát triển của tư duy khoa học và các quan hệ hợp tác quốc tế vì những mục tiêu chung. Tư duy khoa học đòi hỏi sự tôn trọng và hiểu biết lý thuyết trong tính trừu tượng và tính tổng thể phức tạp của nó. Hợp tác quốc tế đòi hỏi thái độ tôn trọng luật chơi, và thiện chí trong quá trình cụ thể hoá, chi tiết hoá những điều thoả thuận. Trên thực tế tính linh hoạt Việt Nam đã nhiều khi dẫn dến các hành vi phá huỷ hệ thống để thắng trong chi tiết. Chàng Trạng Quỳnh đối phó với vua quan phong kiến có thể cười ngạo nghễ vì chiến thắng vẽ giun trong cuộc thi tài. Nhưng những chàng Trạng Quỳnh trong các cuộc đua tài quốc tế có thể nào giành chiến thắng chỉ bằng cách đơn giản và linh hoạt theo kiểu mua đề thi, quay cóp hay mua giò đội bạn được không? Hơn thế nữa còn giễu cợt tinh thần chuyên môn và sự thật thà tuân theo quy chuẩn?

Không phải ngẫu nhiên hiện nay chúng ta đang gắn tính linh hoạt truyền thống với thái độ khôn vặt cần phải vượt qua. Khi Trạng Quỳnh cụ thể hoá đề thi theo hướng đơn giản nhất, dễ làm nhất để chiến thắng, ông đã bộc lộ trí thông minh dân gian trong việc lố bịch hoá những thách đố của quyền lực phong kiến. Nhưng chiến thắng đó dễ dãi. Nếu như Trạng Quỳnh vẽ được mười con rồng trong ba hồi trống thì chiến thắng vẻ vang hơn, nó bộc lộ tài năng đích thực của con người khi giải quyết những bài toán hóc búa nhất trong đời sống bằng trình độ chuyên môn cao. Chúng ta vẫn có thể vui và tự hào với chiến thắng của Trạng Quỳnh như một chiến thắng chính trị trong đấu tranh giai cấp, nhưng chúng ta cần giáo dục thái độ dũng cảm dám đối diện, đối đầu với những bài toán hóc búa nhất, phức tạp nhất của lịch sử và văn hoá. Nghĩa là phải tra vấn chính bản thân truyền thống linh hoạt của chúng ta để vươn lên một đức hạnh cao hơn, một linh hoạt có tầm khoa học và có tầm nhân loại. Thậm chí, biết dừng lại, biết thua, biết nhẫn nhục để tiếp tục tích luỹ, học hỏi, tìm hiểu bài toán khó đó sẽ đưa chúng ta đến những cơ hội chiến thắng vẻ vang hơn và thuyết phục hơn. Nếu chỉ tìm cách thắng bằng mọi giá sẽ dẫn đến huỷ hoại tư duy khoa học, đánh tráo đề thi và phá hoại luật chơi.

Truyền thống linh hoạt mang tính cụ thể hoá và đơn giản hoá không chỉ tiềm ẩn những yếu tố gây ra những xung năng phản phát triển trong văn hoá, mà có thể còn làm phân hoá cộng đồng trong xu hướng cá thể hoá, gây mất ổn định về chính trị và kinh tế. Xu hướng linh hoạt, cụ thể hoá và đơn giản hoá để thắng bằng mọi giá sẽ trở thành lực ly tâm lớn nhất chi phối trong chiều sâu tâm thức. Những biểu tượng chung, những giá trị chung những phẩm chất chung, những chiến lược chung, những nhiệm vụ chung khi đi vào thực tế cuộc sống dễ bị tính linh hoạt truyền thống phân huỷ biến thành những nhiệm vụ đơn giản, những lợi ích cá nhân do mỗi người mỗi nơi lại “tuỳ”, “lựa”, “liệu” theo cách của mình, đơn giản hoá nhiệm vụ theo sở thích riêng và thế mạnh riêng, dẫn đến tình trạng chuyển động Braonơ trong toàn xã hội. Truyền thống linh hoạt sáng tạo biện minh cho sự phá huỷ lý thuyết, phá huỷ chiến lược và phá huỷ tổ chức. Lợi ích cá nhân phá huỷ lợi ích chung. Đó là cấu trúc bề sâu của tình trạng tham nhũng, hỗn loạn, bán lẻ đất nước, địa phương chủ nghĩa, cơ hội và vọng ngoại khá phổ biến hiện nay./.

BÙI CHÍ VINH

(Sau một ngày thống kê một cách khách quan những bi hài kịch thời sự nóng hổi)

Chào một ngày giống hệt mọi ngày

Sóng truyền hình phủ toàn phim Trung Quốc

Từ HTV, VTV, BTV, Đồng Nai, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Cà Mau… cho đến “cáp”

Hết “Triều Đại Mãn Thanh” đến “Đại Tống Truyền Kỳ”

Chào một ngày giống hệt mọi ngày

Đọc báo thấy cha ông mất hút

Thấy thiên hạ quỳ mọp dưới tượng đài Binh Pháp Mặc Công, Ngọa Hổ Tàng Long, Họa Bì, Xích Bích…

Con nít thuộc lòng Hoắc Nguyên Giáp, Hoàng Phi Hồng, Diệp Vấn, Diệp tùm lum hơn thuộc sử Tiên Rồng

Chào một ngày đất nước tự lưu vong

Cội rễ văn hiến 4000 năm trốc gốc

Tuổi teen gối đầu giường Lý An, Ngô Vũ Sâm, Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca lạ hoắc

Pano giăng khắp nơi hình ảnh Củng Lợi, Chương Tử Di, Thành Long phơi phới toét miệng cười

Chào một ngày phát triển giống đười ươi

Đi trên xã tắc thấy người thua xa khỉ

Thấy lô cốt ngáng đường, thấy nước ngập tận mông, thấy thánh hiền sợ quỷ

Thấy truyền thống chống ngoại xâm co rúm lại vì… tiền

Chào một ngày vong bản vì… hèn

Sống chết mặc bây, túi thầy vô cảm

Ải Nam Quan nằm ngoài ranh giới Việt Nam, xưa rồi Diễm…

Nước mắt Nguyễn Trãi khóc Nguyễn Phi Khanh rơi ở tận… nước Tàu

Chào một ngày bãi biển hóa nương dâu

Thác Bản Giốc rời Cao Bằng như có cánh

Thắng cảnh để lại của tiền nhân bị cháu con ghẻ lạnh

Các di tích, kỳ quan cứ mất tích đều đều

Chào một ngày hình chữ S tong teo

Tài nguyên bôxit bị bới đào như… bọ xít

Nhôm và đô la chẳng thấy đâu, chỉ thấy đất Tây Nguyên rên xiết

Ô nhiễm mạch ngầm, nước sông làm nghẹt thở Chín Con Rồng

Chào một ngày long mạch bị xới tung

Máu bầm đất đỏ bazan, máu tràn ra hải đảo

Ai cho phép Hoàng Sa Trường Sa thành Tam Sa lếu láo

Tội nghiệp rừng cọc nhọn của Hưng Đạo Đại Vương trên sóng Bạch Đằng

Chào một ngày giống hệt cõi âm

Những xác chết anh hùng bật dậy

Máu trả máu, đầu trả đầu. Nhớ đấy

Mãi quốc cầu vinh tất quả báo nhãn tiền

Chào một ngày soi rõ mặt anh em!

21 – 4 – 2009 BÙI CHÍ VINH

Tương Lai Cập nhật : 06/04/2009 19:01

Trùng tu, đúng, phải trùng tu ngôi đình. Nhưng trước hết có lẽ phải “ trùng tu ” cái đầu còn hời hợt trong suy nghĩ về di sản của ông cha để lại.

NGÔI CHÙA LÀNG & VĂN HÓA LÀNG

Tương Lai

Bất cứ người Việt nào cũng có, và cần có, một vùng quê để thương để nhớ. Thật bất hạnh cho ai đó không có được một “ vùng thương nhớ ” ấy trong hoài niệm tuổi thơ. Mà đã là hoài niệm, thì cho dù nơi ấy có cơ cực tủi nhục đến đâu, có xơ xác lam lũ thế nào, có để lại những dấu ấn buồn đau đến mấy, thì vẫn có sức gọi dậy những vang bóng một thời đầy ắp những kỷ niệm mông lung, ấm áp.

Về làng, ta về làng, hai tiếng ấy giục giã đến nao lòng những người vì cuộc mưu sinh, vì một sự nghiệp phải xa quê. “ Ai về làng cũ hôm nay, Thư này đưa hộ cho thày mẹ tôi. Con đi mười mấy năm trời, Một thân bé bỏng, nửa đời gió sương…Con đi năm ấy tháng tư, Lúa chiêm xấp xỉ giỗ từ tháng ba. Con đi quạnh cửa quạnh nhà, Cha già đập lúa, mẹ già giũ rơm. Cha dậm gạo, mẹ vần cơm. Có con, con vắng, ai làm thay cho ” (Nguyễn Bính).

Mà đã về làng thì làm sao có thể không nhớ đến ngôi chùa làng. “ Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt ”. Chùa làng thường gắn với đình làng, một bộ sóng đôi trong tâm thức người Việt, nhưng quan trọng hơn, nó thể hiện sinh động triết lý nhân sinh và tinh thần khoan dung hoà hợp trong đời sống tín ngưỡng của dân tộc. Ngôi chùa làng đáp ứng một nhu cầu rất sâu đậm của đời sống thôn dã, là sự cân đối trở lại nét bất bình đẳng nặng nề trong sinh hoạt cộng đồng làng quê xưa. Nếu ở đình làng, ngoài những ngày sóc vọng lễ tiết có “ hội làng mở giữa mùa thu, giời cao gió cả giăng như ban ngày ” mà cả dân làng đều tụ hội, thì thông thường, chốn đình trung chỉ dành cho các quan viên bàn “ việc làng ”, người phụ nữ không được can dự. Cho nên ngôi chùa làng lại là nơi dành cho họ, các cụ, các bà, các cô thôn nữ, và đương nhiên trẻ em được theo bà, theo mẹ, theo chị đến chùa. “ Trẻ vui nhà, già vui chùa ”, trẻ cũng được theo già để được “ vui chùa ”.

Vì vậy, nếu “ cái đình là trung tâm của làng. Làng nào cũng có đền thờ ông thần hoàng. Đình được cất cao ráo khang trang, thế tất theo phong thủy, nơi phong quang nhất làng ” theo như sự miêu tả nhà văn Tô Hoài trong Chuyện cũ Hà Nội, thì chùa làng thường được cất nơi thanh vắng, tịch mịch, không câu nệ là ở góc làng, là ở ven làng hay ở trung tâm. Đúng hơn, ngôi chùa làng dù toạ lạc ở vị trí nào nơi thôn cùng xóm vắng thì nó vẫn hiện diện vừa thân thiết gần gụi, vừa huyền ảo lay động cõi tâm linh, một góc khuất trong đời sống tinh thần của người làng quê. Xin hãy trở lại với vang bóng của một thời để khơi gợi một nét văn hoá làng quê được thăng hoa trong thơ Nguyễn Bính : “ Trên đường cát mịn một đôi cô. Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa. Gậy trúc dắt bà già tóc bạc. Tay lần tràng hạt miệng nam mô ” ?

Phải chăng đây chỉ là hoài niệm về một vùng thương nhớ, quyến rũ mà dường như đã một đi không trở lại, khi mà tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá được đẩy tới, mà ai đó trong cái nhìn thiển cận ăn xổi ở thì, cứ ngỡ như chỉ muốn đưa chuyện thi “ người mẫu ” thi “ hoa hậu ” lượn lờ khoe các vòng eo thay cho “ yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa ” ! Người ta quên mất rằng, do đời sống kinh tế được cải thiện, nhiều gia đình nông thôn đã sắm được chiếc tivi, nhà chưa sắm được thì đêm đêm có thể xem nhờ hàng xóm. Kinh tế có cải thiện, nhưng lối sống chưa mấy đổi thay, thị hiếu thẩm mỹ đi liền với phong tục tập quán của gần hai phần ba dân số sống ở nông thôn sẽ ngỡ ngàng như thế nào khi được thường xuyên “ tiếp sóng ” những lượn lờ vòng eo và áo tắm 3 mảnh rất chi là mùi mẩn, sẽ “ phát huy tác dụng ” như thế nào ? Người ta quên mất rằng văn hoá không phải là mì ăn liền, văn hoá được hình thành theo quy luật thẩm thấu, việc ăn tươi nuốt sống những sản phẩm văn hoá không tương thích với môi trường sống và phong tục tập quán chưa đổi thay sẽ gây độc hại nhiều hơn là thêm dưỡng chất. Đấy là chưa nói đến việc vì chưa cẩn trọng và thiếu hiểu biết, người ta đã vô tình chuyển tải những cặn bã văn hoá mà xã hội văn minh đã loại thải vì chán ngấy. Và rồi như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều phải thảng thốt kêu lên : “ Những nền tảng của văn hoá truyền thống ở các làng quê đã biến dạng và bị phá vỡ. Cái quan hệ hàng xóm láng giềng có được trong truyền thống tốt đẹp lâu đời của văn hoá làng Việt Nam mỗi ngày một mất đi những vẻ đẹp và tính nhân văn của nó. Làng quê Việt Nam bây giờ “ ông chẳng ra ông thằng chẳng ra thằng ”. Phố cũng không phải phố mà làng cũng không phải là làng. ” (Vietnamnet 20.8.2008) Vì thế trên một tờ báo điện tử này đã cất lên tiếng gọi hồn : “ Làng tôi bây giờ ở đâu ? Biết bao nhiêu người đã đứng lặng và cất lên câu hỏi đó…. Hồn vía của làng đang bỏ cái làng địa lý ra đi giống một linh hồn đã rời bỏ thể xác… đây không phải là một dự báo mà là một hiện thực. Khi chúng ta đánh mất hồn vía của làng là chúng ta mất làng. Và nói rộng hơn là chúng ta đánh mất văn hoá. Khi văn hoá không còn thì chúng còn gì nữa đâu. Hỡi hồn vía làng quê ở đâu hãy về ! ” Thật ra, ngẫm nghĩ kỹ, cái hồn vía làng quê ấy từng được gìn giữ bằng xương máu của bao thế hệ để giữ làng, giữ nước. Trong trường kỳ dựng nước và giữ nước, người Việt hiểu rõ làng và nước gắn làm một, và nét độc đáo của truyền thống Việt Nam là làng còn thì nước còn. Thì chẳng thế sao, nhiều lần ông cha ta dám bỏ ngỏ kinh đô Thăng Long, thế kỷ 13 chống đế quốc Nguyên Mông, thế kỷ 15 chống quân xâm lược nhà Minh, thế kỷ 18 chống quân xâm lược nhà Thanh, thế kỷ 20, Hà Nội bị thực dân Pháp quay trở lại chiếm đóng. Và quân dân đời Trần, đời Lê, đời Quang Trung và thời đại Hồ Chí Minh dựa vào làng để tích tụ sức người, sức của rồi chiếm lại thủ đô, lấy lại nước. Trong truyền thống kháng chiến qua các thời đại, ngôi chùa làng bao giờ cũng là nơi nuôi dưỡng chở che người yêu nước. Ngay trong cái bảng lảng của một cảm thức mơ hồ về lòng yêu nước mà Tự Lực Văn Đoàn của một thời gợi nhớ, thì ngôi chùa trong Tiêu Sơn tráng sĩ của Khái Hưng không phải là không để lại trong ký ức của ai đó một thoáng đăm chiêu về đất nước dưới ách nô lệ ! Một bóng dáng khác, dữ dội hơn nhưng cũng đằm thắm, sâu nặng hơn về ngôi chùa làng, xin được gợi lên trong tác phẩm của Xuân Cang : Nụ hoa cau. Xuất bản cách đây hơn mười năm, nhà văn có kể lại một chuyện cảm động về ngôi chùa làng ở Kẻ Sủi : một cô du kích gan dạ, từng gánh rơm đốt nhà vãi của ngôi chùa làng ấy để làm hiệu lệnh cho tiêu thổ kháng chiến, khi hoà bình được lập lại, làng của cô đi vào hợp tác, cô đã quyết không chịu biến chùa thành trại chăn nuôi của hợp tác xã. Rồi, cô “ chết thảm thương lắm. Nó chất đầy hoa huệ, đóng kín cửa phòng lại. Người ta bảo nó tự tử vì tình… Ngồi trước nấm mồ chưa xanh cỏ, chị tôi nói : “ Cái người nằm dưới này ấy mà, không phải chết vì tình đâu. Mà vì người ta bảo cô lập một trại chăn nuôi ở ngay trong vườn chùa. Cô đã chối. Cô tâm sự với chị rằng chùa là nơi thiêng liêng, bát ngát hương hoa, nơi ấy lại có đền có giếng, ngày xưa sớm chiều có tiếng chuông ngân làm dịu lòng người. Ngày trước kháng chiến, đốt chùa làm hiệu lệnh, nó đi một nhẽ. Nay khác. Cô không nỡ biến chùa thành nơi ô uế. Cô sợ rằng làm thế làng ta sẽ không ngóc đầu lên được. Cô thà chết. Người ta đã kết cho cô đủ tội. Và cứ lập trại chăn nuôi. Khổ thế đấy em ạ. Chị đã ẵm cô ấy ra khỏi phòng, người cứ bợt bạt đi. Và đẫm một mùi hương huệ ” ” (tr.22)

Đó là một câu chuyện thật dữ dội về ngôi chùa làng. Và vì chùa làng và đình làng như bộ sóng đôi trong tâm thức người Việt, xin dẫn tiếp một chuyện kể về cái đình làng.

Với sự nhạy cảm của một nhà thơ, cách đây khá lâu Nguyễn Duy đã từng xao xuyến nâng máy ảnh chụp ngôi đình nổi tiếng ở quê anh, đình làng Gia Miêu ở Tống Sơn Thanh Hoá tiêu điều, tàn tạ. Vừa rồi, trên báo lại có đề cập đến chuyện ngôi đình này : “ Vua Gia Long cho xây đình Gia Miêu thờ tiên hiền Nguyễn Công Duẩn — một bậc công thần của Lê Lợi thưở khởi nghĩa Lam Sơn, khởi đầu cho công tích họ Nguyễn từ mảnh làng Gia Miêu trở thành một vương triều lớn trong lịch sử Việt Nam ”. Và rồi “ đình Gia Miêu đẹp và thiêng liêng bậc nhất đất Tống sơn – Quý huyện, vậy mà chỉ mới năm 1997 đây thôi nhà thơ Nguyễn Duy về thấy một góc đình thiêng đã sụt, trên cột đình ai đó viết dòng chữ thu mua bèo và ốc để nuôi cá. Ông và nhà văn Nguyễn Khải thắp nhang mà chả biết cắm vào đâu, bèn sắp mấy viên ngói vỡ lên cao một tí làm bàn thiên cắm mấy nén nhang tưởng niệm. Năm 1999 đình Gia Miêu được trùng tu ” (Tuổi Trẻ 20.10.2008). Trùng tu, đúng, phải trùng tu ngôi đình. Nhưng trước hết có lẽ phải “ trùng tu ” cái đầu còn hời hợt trong suy nghĩ về di sản của ông cha để lại. Trên non sông gấm vóc này từng có bao nhiêu di sản như vậy bị tàn phá và nay vẫn đang còn bị tàn phá một cách tàn nhẫn và quyết liệt do nhiều nguyên nhân. Ấy thế mà cũng về ngôi đình này, xin được gợi lên đây một sự kiện thật có ý nghĩa do nhà thơ Nguyễn Duy kể lại. Nhân tham gia Hội thảo Khoa học về Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn tại Thanh Hoá, tác giả của bức ảnh chụp đình Gia Miêu tàn tạ, đổ nát năm 1997 đã đến thăm lại đình Gia Miêu vừa được trùng tu, anh được biết thêm rằng : theo ký ức của một số cụ già địa phương thì tháng 2 năm 1947, nghĩa là chưa đầy 3 tháng sau ngày Toàn quốc Kháng chiến 19.12.1946, thay vì từ Chùa Thày ở Sơn Tây đi ngay lên Việt Bắc, thủ đô kháng chiến, Bác Hồ quyết định về thăm Thanh Hoá. Trước khi đến nói chuyện với “ các đại biểu thân sĩ, trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hoá ” (Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 5, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr. 57), Bác Hồ đã đến thắp hương ở đình Gia Miêu và lăng miếu Triệu Tường. Một sự kiện mà càng suy ngẫm càng thấm thía tầm cao tư duy của lãnh tụ, một cốt cách văn hoá vượt hẳn lên cái nhìn trực quan hạn hẹp để thấu vào cốt lõi của lý tưởng giải phóng dân tộc và mục tiêu cao cả của sự nghiệp cách mạng.

Không một tấm lòng Việt Nam yêu nước thương nòi nào không xúc động về hình ảnh Bác Hồ tại Đền Hùng năm 1954 với câu nói bất hủ : “ Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cố gắng giữ lấy nước ”. Rồi vào thời điểm cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở Miền Bắc vừa bắt đầu Bác đã về thăm đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn ngày 15. 2.1965. Hình ảnh từng có sức lay động mãnh liệt về sự gắn kết giữa truyền thống với hiện đại, về sự hiện diện của ông cha trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước hôm nay, đó là hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tấm bia Côn Sơn Tư Phúc tự bi vào dịp ấy. Có hiểu về điều này mới hiểu ý nghĩa sâu sắc của việc Bác Hồ ký sắc lệnh về bảo vệ di sản đúng hai tháng sau ngày Nam Bộ kháng chiến 23.9.1945. Sắc lệnh đó ghi rõ : “ Cấm phá huỷ những đình, chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác, cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn. Cấm phá huỷ những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử mà chưa được bảo tồn ”. Và sẽ càng hiểu sâu đậm hơn khi đặt cạnh Sắc lệnh số 65 ngày 23.11.1945 nói trên cái “ Sắc chỉ ” của Minh Thành tổ gửi viên tướng viễn chinh Chu Năng cách đó 539 năm, ngày 21.8.1406 : “ Một khi binh lính vào nước Nam, trừ sách vở và bản in của Đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu huỷ, ngoài ra, hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến những loại ca lý dân gian hay sách dạy trẻ nhỏ, loại sách có có câu “ thượng đại nhân, khưu ất kỷ ”… một mảnh, một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước, phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều gìn giữ cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá huỷ tất cả, một chữ chớ để còn…”. Nghĩa là tiêu diệt nền văn hoá bản địa hiện hình trên những bia ký, sách vở vốn là di sản vô giá của một dân tộc, một quốc gia. Tiêu diệt cái đó cũng chính là hủy diệt đời sống tinh thần của một dân tộc, cái làm nên sức mạnh của dân tộc đó. Quân xâm lược quyết “ một chữ chớ để còn ”, cho nên nhà sử học Ngô Sĩ Liên đau xót mà viết “ Lửa đốt sạch, than ôi vận nước, sách vở đi đời. Muốn tìm sự tích sau cơn khói lạnh tro tàn, thật rất khổ tâm về nỗi nét sai, chữ sót…”. Hoàng Đức Lương, văn thần triều Lê Thánh Tông, tác giả của Trích Diễm Thi tập ngậm ngùi mà rằng : “ bôn ba sưu tập, hỏi han khắp nơi…những gì thu thập được cũng chỉ là một, hai trong trăm, ngàn phần…”. Thế đấy, chỉ còn được “ một, hai trong trăm ngàn ” những báu vật quốc gia, những di sản vật thể và phi vật thể ấy, vì thế mà phàm là người Việt Nam còn chút lương tri, lương năng thì phải cố công chăm chút bảo vệ. Phạm vào di sản quốc gia là phạm vào trọng tội, sẽ bị hậu thế chê cười, cháu con phê phán vì đã không biết trân trọng máu xương của bao thế hệ Việt Nam đổ ra để tạo dựng và gìn giữ. Về chuyện này, lịch sử rất sòng phẳng.

Thế là từ chuyện ngôi chùa làng mà bàn rộng ra những di sản, báu vật quốc gia. Mà báu vật quốc gia sát sườn với con người đang sống, đang thực hành công nghiệp hoá, đô thị hoá, hiện đại hoá là chùa làng, là đình làng những biểu tượng văn hoá gần gũi, gắn bó với người nông dân, kể cả những người thành thị là gốc gác nông dân. Nhưng thật ra, có người dân thành phố nào không có một gốc gác nông thôn ? Và vì văn hoá được hình thành theo quy luật thẩm thấu, nên cho dù trải qua những tàn phá thô bạo, những thương tổn nặng nề, trong sâu thẳm tâm linh của người nông dân, những nội dung văn hoá vô hình không dễ gì mất đi được. Chúng vẫn được ủ kín trong mỗi con người, nhất là các cụ già. Và đấy là lý do giải thích sự khởi sắc của một số lễ nghi, tập tục qua các hội làng, các sinh hoạt tín ngưỡng ở làng quê. Tuy không mất đi được, song sự tổn thương thì rất khó hàn gắn. Những tổn thương đó hiện đang được trị liệu, nhưng song hành với những trị liệu đó, “ văn hoá làng ” đang đứng trước một thách đố còn quyết liệt hơn nhiều của làn sóng công nghiệp hoá và đô thị hoá. Liệu có thể khoanh tay ngắm nhìn sự một đi không trở lại của những hình bóng quê hương, những ngôi chùa làng, những ngôi đình làng thân thiết sâu thẳm trong tâm thức người Việt chỉ còn là những “ vang bóng một thời ” ?

Không ! “ Văn hóa làng ” chính là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn Việt Nam, góp phần hun đúc nên bản sắc văn hoá dân tộc được vun đắp trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, không có cái gốc đó, không thể có bề dày văn hoá hôm nay. Đương nhiên, cũng trong văn hoá làng đã trầm tích những nét tiêu cực của con người Việt Nam nông dân, lối suy nghĩ vụn vặt, tản mạn tự trói mình trong luỹ tre làng của lối sống tự cấp tự túc không sao chuyển nổi sang kinh tế hàng hoá để phát triển bứt lên. Nhưng văn hoá làng không chỉ có thế. Cùng với những tiêu cực phải xoá bỏ, phải biết ra sức trân trọng gìn giữ và phát huy những cốt lõi tinh hoa của văn hoá làng, cái gốc của văn hoá dân tộc.

Càng đi vào hiện đại, càng tiến sâu vào quá trình hội nhập quốc tế, càng phải biết gìn giữ, vun đắp cho cái gốc ấy. Đã mất gốc thì làm sao phát triển, cho dù kinh tế có tăng trưởng bao nhiêu mà văn hoá lại lai căng, mất gốc thì sự tăng trưởng đó chẳng có được bao nhiêu ý nghĩa. Đấy là chưa nói đến chuyện, vào những thập kỷ cuối thế kỷ XX bướ́c sang thế kỷ XXI, thế giới ngày càng nhận thức rõ chính văn hoá mới là động lực và sức mạnh của phát triển. Trong quá trì̀nh toàn cầu hoá về kinh tế, mỗi quốc gia lại phải lo gìn giữ và phát triển bản sắc văn hoá của mình, đó chính là điểm tựa cho sự phát triển trong một thế giới đa cực và đa dạng. Thế nhưng, hãy nhìn vào ngôi chùa làng, ngôi đình làng, trừ một số ít được giữ gìn hoặc đang được trùng tu, còn lại thì đang tàn tạ, tiêu điều ! Vì thế, nhận thức được điểm tựa của phát triển ấy, mới thấy cần phải trả lại cho chùa làng, đình làng cái chức năng văn hoá trong đời sống tinh thần của người Việt. Liệu có thể đánh thức cảm quan thẩm mỹ “ Qua đình ngả nón trông đình. Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu ” và biết xao động với hình ảnh “ Sư già quét lá sau chùa, Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông ” trong xã hội hiện đại ? Ảo tưởng chăng ? Hoài cổ ư ?

Có thể. Nhưng đừng quên rằng, một trong 18 bộ phim hay nhất qua mọi thời đại của điện ảnh Châu Á do CNN bình chọn năm 2008 chính là phim Bao giờ cho đến tháng mười của đạo diễn Đặng Nhật Minh, bộ phim duy nhất của điện ảnh Việt Nam được đưa vào trong danh sách bình chọn đó. Chiều sâu thẳm của bộ phim đó đề cập đến một chủ đề hiện đại trên một cái nền của cảm quan thẩm mỹ dân tộc, ở đây có thể hiểu được một cách cụ thể và đầy thuyết phục thế nào là truyền thống hoá hiện đại và hiện đại hoá truyền thống. Và cũng chính ở đây ngôn ngữ điện ảnh đã làm sống lại cái hồn dân tộc trong vở chèo Trương Viên dưới mái đình làng và sự thăng hoa của cảm xúc thẩm mỹ trong màn sương hư ảo của miếu thờ thành hoàng, ngôi chùa làng làm sống động nét tâm linh của nhân vật Duyên, một tính cách nhuần nhị và kiên cường của người phụ nữ làng quê, vượt qua những đau khổ của chiến tranh tưởng chừng không sao vượt nổi. Cái làm cho bộ phim Bao giờ cho đến tháng mười trở thành bộ phim hay nhất qua mọi thời đại của điện ảnh Châu Á phải chăng có sự góp sức đáng kể của sự thăng hoa ấy trong lý tưởng thẩm mỹ của nhà nghệ sĩ điện ảnh Đặng Nhật Minh ? Quả là, trúc xinh trúc mọc đầu đình, em xinh, em đứng một mình cũng xinh.

Cùng với cái đình làng, phải thấy cho ra ngôi chùa làng, những biểu tượng của văn hoá làng, cội nguồn của văn hoá dân tộc ! Thấy cho ra, để như như đòi hỏi của Nguyễn Văn Siêu, danh sĩ nổi tiếng cuối triều Nguyễn : “ cần phải thăm dò cái gốc của nó lại phải tưới tắm cho cái ngọn của nó, mở rộng cái nguồn của nó, lại phải buông lơi cái dòng của nó ” của mạch sống dân tộc. Nói theo ngôn từ hiện đại thì đó chính là biết hiện đại hoá những tinh hoa của bản lĩnh văn hoá truyền thống, nâng chúng lên một tầm mới trong sự nghiệp phát triển và hội nhập của đất nước hôm nay. Nói chuyện ngôi chùa làng là để nói về văn hoá. Vâng, văn hoá.

Chúng ta đến với thế giới bằng gì nếu không là bằng bản lĩnh của văn hoá Việt Nam ?

TƯƠNG LAI

NGUỒN : Bài do tác giả cung cấp (đã đăng trên Văn hoá Phật giáo, Xuân Kỷ Sửu 2009) – Cóp lại từ  Diễn Đàn

“Văn hóa đọc”, đó là một khái niệm có vẻ nhhư tời thượng, khi người ta muốn nói đến việc công chúng đọc cái gì, đọc ra sao, đọc như thế nào, xu hướng đọc…

Để có được những “bồ chữ” cỡ như Lê Văn Siêu, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến… nếu không đọc và học, làm sao có? Một vị giáo sư nổi tiếng trên bất kỳ lĩnh vực nào, nếu muốn tiếp xúc được với nhiều tầng lớp công chúng, vị đó phải có tầm văn hóa.

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, thực ra chỉ là một vị bác sĩ, nhưng ông nổi tiếng như là một nhà hoạt động văn hóa. Giáo sư Hoàng Tụy, một nhà toán học nổi tiếng thế giới, nhưng ông cũng là một nhà giáo dục có tầm chiến lược… Những dẫn chứng như vậy còn rất nhiều. Để có được tầm văn hóa ấy, vấn đề đơn giản nhưng không phải ai cũng có thể làm được: Đọc và học.

Văn hóa đọc?

Trong cuộc hội thảo “Đọc: Thói quen hay văn hóa?” được tổ chức vào ngày 13-5-2008, ông Antonio Berebguer, Bí thư thứ nhất phái đoàn châu Âu tại VN, có phát biểu đáng suy nghĩ: “Giữa căn phòng trong ngôi nhà tôi ở Tây Ban Nha là một kệ sách lớn. Còn trong hầu hết những ngôi nhà ở VN, trung tâm căn phòng là chiếc tivi màn ảnh phẳng to đùng!”.

Hình như ông Berebguer nói đúng thực tại của chúng ta. Hẳn bạn cũng thấy hình ảnh những du khách nước ngoài trên các chuyến tàu xuyên Việt, hoặc tại nhà chờ ở các sân bay, nếu không ngủ, trên tay họ luôn luôn có cuốn sách và họ đọc không ngơi nghỉ. Còn những hành khách VN? Họ ngủ, hoặc trò chuyện, hoặc ngồi đăm chiêu suy tư, ngó ngu ngơ ra cửa sổ con tàu. Trong những quán ăn ở TPHCM, Hà Nội, chắc chắn bạn thường bắt gặp hình ảnh những du khách nước ngoài ôm sách vừa đọc vừa ăn…

Hình ảnh những ông, bà Tây ôm sách đọc cũng dễ dàng nhận thấy ở trên những ga metro, trên những chuyến tàu tốc hành ở châu Âu và cả ở Nhật Bản. Nếu so sánh những hình ảnh ấy với thói quen của người Việt chúng ta, hình như chúng ta chưa có văn hóa đọc!?

Nhu cầu của mỗi cá nhân.- Mỗi cá nhân có những nhu cầu riêng, phù hợp với công việc, sở thích, cá tính.

Cho nên, cũng không thể nói người Việt không có văn hóa đọc. Nhiều người có nhu cầu đọc như thở và ăn uống mỗi ngày. Nhưng cũng có nhiều người không có nhu cầu đọc, trong nhà họ bạn không thể tìm thấy một cuốn sách hoặc tờ báo nào. Đó là thực tế.

Trong cuộc sống của con người, ngoài nhu cầu thỏa mãn về vật chất, còn có nhu cầu thỏa mãn về tinh thần. Nhu cầu thỏa mãn về vật chất luôn luôn có hạn, còn nhu cầu thỏa mãn về tinh thần gần như vô tận, bởi kiến thức, văn minh, văn hóa của nhân loại là vô tận.

Điều gì ẩn chứa trong từng cuốn sách mà hấp dẫn bạn đọc trẻ này đến vậy? Ảnh: P. Quyên

Chúng tôi đã từng biết những người già khi về hưu suốt ngày ôm sách, hỏi họ vì sao lại mê sách khi về già, câu trả lời đơn giản: Khi còn đi làm, không có thời gian đọc, chỉ đọc những vấn đề về chuyên môn, còn bây giờ đọc những sách triết học, văn học… thấy hiểu biết của mình còn khiêm tốn quá, và cảm thấy cái gì cũng muốn đọc… Câu hỏi rất dễ thương khi bạn còn nhỏ đã biết, nay hình như được lặp lại trong tâm thức bạn: “Điều gì ẩn chứa trong từng cuốn sách mà hấp dẫn ta đến vậy?”…

Đó là thực tế của cuộc sống. Nhưng đọc cũng phải biết cách đọc. Ông trùm máy tính Bill Gates có nói: “Đọc sách cũng là một kỹ năng”. Đã là “kỹ năng” thì phải biết rèn luyện để tạo nên kỹ năng đó. Muốn có kỹ năng, trước hết phải tập thói quen đọc. Có thói quen rồi, mới rèn luyện kỹ năng, tiếp đến mới tìm phương pháp đọc. Tùy theo mục đích đọc, người đọc có những phương pháp đọc khác nhau.

Nguyễn Hiến Lê, một học giả nổi tiếng để lại cho cuộc đời nhiều tác phẩm hữu ích, thực ra ông không học nhiều ở trường lớp, mà chủ yếu là tự học. Gương tự học của Nguyễn Hiến Lê rất đáng nể, ông có thói quen đọc một vấn đề nào đó đều đọc rất kỹ, ghi chép tỉ mỉ, cẩn trọng, điều gì chưa hiểu, ông ghi ra để tìm cách hiểu cho được. Và một phương pháp khó có thể học được ở Nguyễn Hiến Lê là đọc lĩnh vực nào đó, để tự học tốt nhất, ông viết sách về vấn đề đó! Đó là cách đọc của một học giả đáng kính.

Chúng ta đang đọc gì?

Những người băn khoăn cho rằng văn hóa đọc của ta đang xuống cấp. Họ có cái lý của họ, khi khảo sát số liệu thống kê sau của Cục Xuất bản: Một người VN đọc được 2,9 và 7,07 tờ báo/năm. Các loại sách được đọc nhiều nhất gồm: truyện tranh 60%, truyện ngắn 50%, truyện dịch 35%, tiểu thuyết 30%… Thống kê đó cho thấy, truyện tranh được nhiều người đọc nhất và tất nhiên phần lớn độc giả là trẻ em.

Các nhà nghiên cứu cần quan tâm đến số liệu này để xây dựng nền tảng văn hóa đọc cho các em ngay từ nhỏ, nhưng rất tiếc, thị trường truyện tranh hàng ngoại đang lấn át hàng nội. Đó cũng là vấn đề đang được đặt ra cho công tác xuất bản.

Văn hóa đọc không bao giờ chết, bởi con người luôn khát khao văn hóa, kiến thức. Nhìn vào doanh thu từ bán sách ở nước ta mỗi năm hơn 1.000 tỉ đồng, cho thấy sức đọc của người Việt là có. Ngay ở Hội sách TPHCM lần 5 vừa qua, có đến hơn nửa triệu người tham gia, với doanh thu hơn 15 tỉ đồng, cho thấy văn hóa đọc có sức sống riêng của nó.

Thời đại đa truyền thông như hiện nay, có người lo ngại internet chi phối văn hóa đọc, nhưng theo chúng tôi đó là sự chi phối tích cực. Đọc trên mạng hay đọc sách đều như nhau. Sách trên mạng ngày càng phong phú, đa dạng nhưng bạn đọc cũng dễ lạc lối. Điều đó là đương nhiên, vì trên mạng không gian như vô tận, khó kiểm soát chất lượng.

Vấn đề còn lại của chúng ta là làm sao xây dựng cho được một văn hóa đọc lành mạnh. Vấn đề này có thể từ nhà trường, gia đình và cả xã hội. Việc lựa chọn những tác phẩm hay, xuất sắc của nhân loại để xuất bản là vấn đề then chốt, để định hướng văn hóa đọc cho công chúng. Và trên hết, mỗi cá nhân phải hiểu rằng nhu cầu đọc – một nhu cầu tinh thần, sẽ góp phần xây dựng nên tính cách, nhân phẩm và cả tương lai của chính bạn.

LÊ NGA HUYỀN

Tác giả – tác phẩm – công chúng, đó là cái tam vị tạo nên sự nhất thể cho đời sống của nghệ thuật. Ba yếu tố này ràng buộc lẫn nhau, chế định lẫn nhau, đặt điều kiện cho nhau trong suốt chiều dài lịch sử của bất cứ một nền nghệ thuật nào. Nói cách khác, chúng ngang bằng nhau về vai trò thực tiễn trong sự tạo lập đời sống nghệ thuật.

Tuy nhiên, ở nền văn học nghệ thuật của chúng ta hiện nay, hình như lại đang diễn ra sự khuếch đại một cách quá mức vai trò của yếu tố công chúng. Trong văn chương, khi tỏ ra ngờ vực giá trị thực sự của các giải thưởng “quốc nội” lớn nhỏ, không ít nhà văn đã đề nghị gạt các tác phẩm được giải sang một bên để chọn các tác phẩm có lượng phát hành cao. Như vậy, chuẩn cứ để xác định giá trị của tác phẩm văn chương không phải là giải thưởng, mà là số lượng ấn bản và số lần tái bản – những thông số này cho phép chúng ta hình dung về độ ấm lạnh trong tiếp nhận của công chúng đối với tác phẩm. Trong điện ảnh, đang dấy lên làn sóng thực hiện những bộ phim ăn khách. Với tuyên ngôn “Phim là để giành cho khán giả”, người ta dường như tìm thấy giá trị của tác phẩm điện ảnh từ lượng vé bán ra, từ tổng doanh thu, từ lãi sau khi đã trừ tất cả các khoản chi phí – tóm lại là từ con số khán giả đến rạp xem phim. Trong âm nhạc, tình hình cũng tương tự. Thông qua các cuộc bình chọn ý kiến khán thính giả (đang nhiều lên như nấm mọc sau mưa), người ta sẽ biết những ca khúc nào thuộc vào hàng Top – hit, những tác giả nào là nhạc sĩ ăn khách, những giọng ca nào đang là ca sĩ thời thượng, là “sao”. Đó là những giá trị, và ngoài những giá trị ấy tất cả những gì còn lại của âm nhạc dường như đang bị coi là thứ yếu…
Chỉ lấy ví dụ từ ba ngành nghệ thuật là văn chương, điện ảnh và âm nhạc, có lẽ cũng đủ thấy rằng hiện đang phổ biến một xu hướng coi công chúng như đại lượng duy nhất để đo lường giá trị của tác giả, tác phẩm nghệ thuật. Cần phải nhìn nhận hiện tượng này ra sao? Nên mừng hay nên lo đây?
Trước hết hãy xét vấn đề từ yếu tố tác giả. Vì những lí do gì mà người nghệ sĩ bắt tay vào công việc viết văn, soạn nhạc, vẽ tranh, nặn tượng, làm phim v.v…? Nếu loại trừ nhu cầu kiếm sống hoặc sự khát khao tìm kiếm tên tuổi, thì chỉ còn lại hai lí do cơ bản. Thứ nhất, đó là nhu cầu được giải phóng những trăn trở, những vật lộn tìm tòi của người nghệ sĩ trước các vấn đề của đời sống và của bản thân nghệ thuật. Và sau đó, thứ hai, là nhu cầu được cộng thông chia sẻ, được khuếch tán và phổ biến những trăn trở, những vật lộn tìm tòi ấy trong cộng đồng – tức là nhu cầu có công chúng nghệ thuật. Hai lí do này có sức mạnh tất yếu ngang nhau trong quá trình sáng tạo. Nếu không xuất phát từ lí do thứ nhất thì dù có là nghệ sĩ thiên tài cũng không thể đẻ ra được tác phẩm nghệ thuật, có chăng chỉ là một loại “á nghệ thuật” mà thôi. Còn nếu không có lí do thứ hai, nếu người nghệ sĩ tin chắc rằng mình sẽ không có lấy nổi một công chúng – bây giờ cũng như mai sau – hoặc anh ta vốn không cần ngó ngàng tới công chúng, thì đơn giản là anh ta sẽ chẳng sáng tạo làm gì! Đã rõ, không nghệ thuật nào là nghệ thuật không cần tới công chúng. Nhưng công chúng nào, và cần phải ứng xử với công chúng theo cách nào, thiết nghĩ, đó mới thực là điều quan trọng.
Chúng ta thường có thói quen nhận xét về công chúng theo kiểu “túm một mớ”, rằng công chúng thế này rằng công chúng thế kia. Nhưng thực tế là, trong công chúng, anh A khác anh B có khi một trời một vực. Nói cách khác, có những sự phân hóa trong công chúng của nghệ thuật, có thể đó là sự phân hóa về tuổi tác, giới tính, ngành nghề, quan điểm xã hội, quan điểm thẩm mĩ v.v và v.v… Tôi muốn nhấn mạnh đến sự phân hóa về trình độ nhận thức thẩm mĩ. Và theo lằn ranh giới (không phải bao giờ cũng dứt khoát) này, có thể tạm nói đến hai loại công chúng nghệ thuật: công chúng tinh hoa và công chúng phổ thông. Công chúng tinh hoa là những người am hiểu nghệ thuật, họ được (hoặc tự) trang bị đầy đủ kiến thức để có thể tiếp cận tác phẩm nghệ thuật, nắm được nội dung, ý nghĩa, giá trị thẩm mĩ của nó một cách khá chính xác. Họ có khả năng phát hiện cái mới ở nó và cũng có khả năng phê phán nó, họ nhìn thấy quá trình sáng tạo âm thầm của tác giả và có thể đặt yêu cầu với anh ta ở quá trình tiếp theo… Còn công chúng phổ thông, đó là những người yêu nghệ thuật một cách bất tự giác, họ đến với nghệ thuật hầu như theo nhu cầu giải trí thuần túy. Họ có thể cũng có sự phẩm bình đánh giá tác phẩm, tác giả, song cơ bản thì đó là sự phẩm bình đánh giá thiên về cảm tính và theo “lẽ phải thông thường” (chữ của Engels). Sau khi đã phân loại để nhận diện hai kiểu công chúng này, phải nói ngay một đặc điểm rất quan trọng: quan hệ giữa công chúng tinh hoa và công chúng phổ thông là quan hệ giữa thiểu số và đa số, hơn nữa, nhận định của hai loại công chúng về nghệ thuật rất thường khi không trùng khít với nhau, nếu không muốn nói là hay trái ngược nhau! Đến đây, đã có thể tạm có câu trả lời cho xu hướng coi công chúng như đại lượng chuẩn để đo lường giá trị của tác giả, tác phẩm nghệ thuật: được số đông công chúng thừa nhận chưa hẳn đã là đủ điều kiện để tấn phong giá trị, nếu như số đông ấy chỉ gói gọn ở công chúng phổ thông. Thế mà, oái oăm thay, sự thực nhãn tiền ở nền văn học nghệ thuật của chúng ta hiện nay là như vậy: những bộ phim ăn khách, thu lãi suất cực cao là những bộ phim mà giới làm nghề và giới phê bình điện ảnh phải ngán ngẩm lắc đầu. (Nhưng không vì thế mà tất cả những bộ phim thua lỗ lại đều là những tác phẩm điện ảnh ở trình độ nghệ thuật cao. Nhiều đạo diễn Việt Nam thường đổ lỗi cho công chúng không đủ tầm để xem phim do mình mình làm ra – về lí thuyết thì có thể nói như vậy, nhưng với thực tế của phim Việt Nam thì tôi… không tin). Những ngôi sao ca nhạc, những Top – hit ca khúc do khán giả bình chọn chẳng mấy khi liên quan đến sự thẩm định của các hội đồng nghệ thuật gồm toàn những nhạc sĩ thành danh và đầy uy tín. Trong kiến trúc, người dân chỉ thích những kiểu công trình mà giới kiến trúc sư cực lực phản đối. Văn chương có khá hơn, song không phải cuốn sách nào có lượng phát hành cao cũng là cuốn sách được giới phê bình mặn mà… Tóm lại, khi chưa có sự phê chuẩn của công chúng tinh hoa, thì những giá trị có được từ sự thừa nhận của số đông công chúng là những giá trị hết sức bấp bênh và đáng ngờ. Và hiển nhiên, việc lấy số đông công chúng làm chuẩn cứ để định giá nghệ thuật là điều đáng lo hơn đáng mừng, bởi lẽ, nó tiềm tàng khả năng tạo ra sự “lộn sòng” giữa chân giá trị và ngụy giá trị trong nghệ thuật!
Thực ra, sự khuếch đại một cách quá mức vai trò của công chúng là một vấn đề có tính lịch sử trong đời sống nghệ thuật ở ta. Không nghệ thuật nào là nghệ thuật không cần tới công chúng – đây là nguyên tắc. Nhưng, trong tiến trình dân chủ hóa nghệ thuật, và đặc biệt, trong bối cảnh mà sản phẩm nghệ thuật cũng cần thiết phải trở thành hàng hóa, thì khái niệm “công chúng” trở nên khá chung chung. Có lẽ phải hiểu “công chúng” ở đây nghĩa là “đại chúng” – một đối tượng tiếp nhận nghệ thuật gần như trùng khít với cái gọi là công chúng phổ thông. “Nghệ thuật phục vụ đại chúng” – có một khẩu hiệu như vậy, và chính là với sự định hướng mang tính quyết định luận như vậy mà nền nghệ thuật Việt Nam đã vận động theo cách riêng của nó kể từ sau năm 1945 tới nay. Tôi muốn bàn kĩ hơn về từ “phục vụ”. Một cách đơn giản, có thể hiểu “phục vụ” là làm thoả mãn nhu cầu của đối tượng. Phục vụ nghệ thuật là làm thoả mãn thị hiếu thẩm mĩ của công chúng, ở đây ta đang nói về công chúng phổ thông. Vậy thì, để có thể phục vụ được công chúng phổ thông, người nghệ sĩ cần phải hiểu rõ công chúng muốn gì, cần gì, thích gì, và từ đó làm ra loại tác phẩm nghệ thuật phù hợp với cái muốn, cái cần, cái thích ấy. Có những nghệ sĩ không chút băn khoăn về chuyện này. Nhưng lại có không ít người cảm thấy bức bối: họ muốn có công chúng của mình, càng nhiều càng tốt (tất nhiên!), nhưng những tìm tòi trong lao động nghệ thuật của họ thì lại vượt quá kích cỡ thẩm mĩ của công chúng. Chỉ có hai giải pháp cho vấn đề này: thứ nhất, người nghệ sĩ phải “thu bé” mình lại, và thứ hai, anh ta cứ việc chường mình ra để rồi trở thành lạc lõng, thậm chí bị ghẻ lạnh – trường hợp của Nguyễn Đình Thi với sự thể nghiệm thơ không vần trong những năm đầu thời chống Pháp là một ví dụ khá điển hình, và đó cũng là trường hợp của Nguyễn Quang Thiều với lối thơ “như dịch mộc từ thơ Tây” vào đầu những năm 1990. (Nhà mĩ học tiếp nhận người Đức, Hans Robert Jauss, đã cho một lời đáp về hiện tượng này bằng khái niệm “tầm đón đợi” – khái niệm chỉ trình độ nhận thức của công chúng ở một thời điểm cụ thể: những tác phẩm nào vượt quá tầm đón đợi của công chúng khi mà nó xuất hiện thì thường phải chịu số phận như vậy). Nhìn nhận vấn đề một cách thật khách quan, có thể mạnh dạn nói rằng: mục đích sáng tạo nghệ thuật để “phục vụ đại chúng” – và chỉ thế thôi – chính là một trong những yếu tố ngăn trở năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ, ngăn trở khả năng nảy sinh cái mới trong nghệ thuật và là sức ỳ đối với tiến trình vận động của nghệ thuật.
Câu hỏi đặt ra là: vậy thì rốt cuộc người nghệ sĩ phải ứng xử với công chúng như thế nào? Tất nhiên phải hướng về công chúng, nhưng không phải là để “phục vụ” công chúng theo những quy tắc vàng của kinh tế thị trường mà chúng ta ai nấy đều thuộc lòng: “khách hàng là Thượng đế”, và, “bán cái khách hàng cần chứ không bán cái mà mình có”. Làm như vậy, người nghệ sĩ có thể trở thành một tác giả best seller trong văn chương, một nhạc sĩ thời thượng, một hoạ sĩ bán được nhiều tranh, một kiến trúc sư có nhiều đơn đặt hàng, một đạo diễn điện ảnh được nhiều hãng phim săn đón… nhưng trong tiến trình lịch sử của nghệ thuật, ít hy vọng anh ta sẽ để lại một dấu ấn tích cực nào. Bởi lẽ, đó là cách kéo tụt nghệ thuật xuống, thu hẹp nghệ thuật lại cho phù hợp với tầm vóc của số đông công chúng. (Vẫn có những tác phẩm thoả mãn được cả hai kiểu công chúng, do vậy nó vừa có giá trị thực, lại vừa ăn khách. Nhưng đó là số ít, rất ít). Thiên chức của người sáng tạo, có lẽ, trước hết là trung thành với những suy nghĩ trăn trở, những vật lộn tìm tòi của mình, và sau đó là dám chấp nhận trả giá vì nó. Nhà văn Pháp Alain Robbe Grillet – chủ soái của “Tiểu thuyết mới” – từng phát biểu: “Nhà văn sẽ là kẻ suy đồi khi mà trong lúc sáng tác anh ta còn nghĩ đến công chúng”. Dĩ nhiên không phải ông không cần đến công chúng – xin nhắc lại: không có nghệ thuật nào lại không cần tới công chúng – mà là ông đặt trọng tâm ở khả năng chiếm lĩnh những đỉnh cao nghệ thuật của người sáng tạo. Chỉ bằng cách liên tục chiếm lĩnh những đỉnh cao mới, nghệ thuật mới “phục vụ” công chúng có hiệu quả nhất. Hay nói cách khác, nghệ thuật phải làm được chức năng đào tạo công chúng: thay vì cách thoả mãn giản đơn cái thị hiếu thẩm mĩ hiện có của công chúng, người sáng tạo nghệ thuật phải bằng tác phẩm của mình mà “nâng cấp” thị hiếu ấy, đưa nó vượt ra khỏi giới hạn của thói quen tiếp nhận đã ổn định. Đây cũng là quan điểm của mĩ học tiếp nhận: việc liên tục điều chỉnh tầm đón đợi của công chúng chính là yếu tố tác động trực tiếp tới sự phát triển của nghệ thuật, và là bản thân sự phát triển ấy.
Nếu có phải nói thêm gì đó trong bài viết này, tôi muốn được bày tỏ sự… thất vọng của mình: chúng ta chưa có một tầng lớp công chúng tinh hoa thực sự! Công chúng tinh hoa ở lĩnh vực nghệ thuật này rất hay là công chúng phổ thông trong những lĩnh vực nghệ thuật khác: nhà văn thích chơi tranh sú- vơ- nia Bờ Hồ, nhạc sĩ xem phim video TVB, hoạ sĩ đọc truyện tình… hai xu rưỡi v.v… là chuyện chẳng hiếm. Do vậy, tôi cứ nhìn những nhân vật lịch lãm “cùng mình” trong thưởng ngoạn nghệ thuật như Milan Kundera hay Octavio Paz mà thấy phục sát đất. Cầm lòng vậy, đành lòng vậy…

HOÀI NAM

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.