Feeds:
Posts
Comments

13/1/2010

Có một người nọ, anh Z, ngày kia, ngước mặt lên nhìn mặt trời, và đột nhiên nhận ra mặt trời thật đẹp. Một vầng ánh sáng mãnh liệt rực rỡ tỏa ra một sức mạnh anh chưa bao giờ biết đến trong đời. Và thế là từ đó, anh dành hầu hết thời gian để nhìn mặt trời. Anh ngắm mặt trời mỗi khi anh đi ra phố, nên đôi khi anh va đầu vào cột điện, hoặc bước chân xuống cống. Nhưng anh chẳng lấy làm phiền khi trán bưu lên một cục to, hoặc chân xây xát và khiến anh phải đi cà nhắc. Miễn là được nhìn mặt trời thì anh đã thấy hạnh phúc lắm rồi. Những khi thấy mỏi cổ, thì anh tìm một băng ghế và nằm xuống. Nằm thế này mà ngắm mặt trời thì quá thích. Nếu không phải làm gì, anh có thể nằm như thế này cả ngày. Anh cảm thấy khổ sở mỗi khi phải đi làm, vì khi anh quần quật với mớ giấy tờ cao nghều nghệu, anh không có tí thời gian nào để bước ra sân và nhìn mặt trời. Còn khi anh rời sở, thì mặt trời đã lặn mất rồi. Đời anh trở nên tăm tối vào mỗi cuối ngày, khi mặt trời của anh không còn ở đó trên bầu trời, nơi anh có thể chiêm ngưỡng.

Anh háo hức nói với anh bạn thân: “Cậu có thấy mặt trời quá đẹp không?”

Nhưng anh bạn thân lại đáp lại một cách buồn bã: “Mặt trời đẹp thì đã làm sao? Cuộc đời tớ sắp lao xuống vực thẳm rồi. Lão chủ khốn kiếp đã đe rằng nếu tháng này tớ không bán đủ doanh số thì lão sẽ đuổi tớ thẳng cổ. Ôi chao ơi, rồi tớ biết nói sao với mụ vợ tớ đây? Và còn mấy cái mồm rộng toang hoác của lũ con nữa chứ. Bọn chúng chỉ biết mỗi việc đòi ăn thôi.” Nói rồi anh thở dài não nề. Nhưng anh Z không thể hiểu được tí gì những lời anh bạn nói. Anh không hiểu sao trên đời lại có chuyện gì đau khổ đến mức khiến ta không thể nhận ra vẻ đẹp của mặt trời. Nó rạng rỡ như thế cơ mà.

Anh nói với cô em gái: “Em có thấy mặt trời quá đẹp không?”

“Anh ơi, em và người yêu em vừa cãi nhau một trận kịch liệt và có lẽ chúng em sắp chia tay nhau. Làm sao em có thể sống nổi nếu thiếu anh ấy hả anh?”, nói rồi cô òa khóc nức nở. Nhưng Z lại cảm thấy cô em gái anh thật tầm thường khi nói ra những lời như vậy. Người ta chỉ không thể sống nổi nếu thiếu mặt trời thôi, chứ sao lại không thể sống nổi khi thiếu cái gã bạn trai thô lỗ vô công rỗi nghề ấy!

Anh nói với người yêu: “Em ạ, mặt trời đẹp quá, em có thấy thế không?”

“Em chưa từng nghe anh khen em đẹp, thế mà anh còn bảo với em là mặt trời đẹp sao? Thế thì anh đi mà yêu mặt trời nhé. Em chán anh lắm rồi!” Nói rồi cô dằn dỗi bỏ đi. Z đứng lặng trong ngỡ ngàng, không hiểu sao người yêu anh lại phản ứng một cách thái quá như thế.

Buồn bã vì không ai chia sẻ cùng anh vẻ đẹp của mặt trời, Z quyết định sẽ rời khỏi đây. Anh sẽ đi lên tận ngọn núi cao nhất, nơi anh có thể ở gần mặt trời nhất. Thế là anh từ giã gia đình và người yêu. Bạn thân anh hết lời khuyên anh đừng đi, em gái anh thì rấm rức khóc, còn người yêu anh thì buồn bã thở dài. Anh bước đi, lòng vui phơi phới, vì từ nay, không còn điều gì ngăn cản anh nhìn mặt trời nữa. Và anh lại còn đang từng bước đến gần mặt trời hơn. Chuyến đi không phải là không gian nan. Anh vượt qua nhiều sông suối, băng rừng, leo núi. Anh đi qua nhiều làng mạc, thung lũng. Anh cũng gặp được nhiều người thú vị, thấy được nhiều kì hoa dị thảo, nhưng không nơi nào có thể giữ chân anh. Mặt trời vẫn tỏa sáng trên cao kia, và anh vẫn còn ở xa nó quá.

Rốt cuộc, một ngày kia, anh đã leo lên đỉnh ngọn núi cao nhất. Anh đứng đó, mệt mỏi và xác xơ sau một chuyến hành trình thật dài. Mặt trời có lẽ có to hơn một chút thật, khi nhìn từ vị trí này, nhưng anh không biết chắc được. Vầng sáng vẫn rạng rỡ mãnh liệt như thế. Bỗng một cảm giác thất vọng ập tới, bao trùm lấy anh. Anh sẽ phải đi đâu để có thể gần mặt trời hơn nữa? Anh không biết. Anh không nhìn thấy con đường nào cả. Và dù cho anh có đành chết ở đây, thì anh cũng không thể đến gần mặt trời hơn. Đắm chìm trong nỗi tuyệt vọng khôn cùng, anh òa khóc nức nở.

Khóc chán, anh buồn bã đi xuống núi. Anh tá túc tại một ngôi nhà tranh đơn sơ. Đêm đó, trời đầy sao, và từng cơn gió nhẹ mang đến hương hoa ngào ngạt. Anh nằm dài trên cỏ, lòng buồn rười rượi. Chợt một giọng nói nhỏ nhẹ vang: “Chú lên núi làm gì vậy?”

Anh quay lại. Con gái út của chủ nhà, một cô bé xinh xắn, nhìn anh cười bẽn lẽn.

“Chú … chỉ muốn đi ngắm cảnh thôi.”

“Thế thì chú nhọc công lên núi làm gì. Trên đó, chỉ có tuyết phủ quanh năm, vừa lạnh vừa nguy hiểm. Ở quanh đây có rất nhiều chỗ đẹp. Cháu vẫn thường đi chơi suốt mà.”.

“Nhưng… chú thích nhìn mặt trời cơ. Mặt trời mới là đẹp nhất.”

“Vâng, đúng thế chú ạ. Mặt trời rất đẹp. Cháu cũng rất thích mặt trời. Bố cháu nói, nếu không có mặt trời thì sẽ chẳng có ánh sáng, chẳng có hoa cỏ, chẳng có màu sắc hay hương thơm gì cả. Mà cũng không thể trồng trọt gì. Khắp nơi sẽ tối mịt, chúng ta sẽ chẳng nhìn thấy gì và không chừng mọi thứ đều chết hết. Bố cháu nói, chúng ta phải biết ơn mặt trời về điều đó. Mặt trời có trong tất cả những gì đẹp đẽ xung quanh chúng ta. Ngày mai cháu dẫn chú đi chơi nhé. Có một đồng cỏ rất đẹp ở trên kia.”

[Viết] Ngăn cách

Liệu có lúc nào chúng ta dỡ bỏ được những gì ngăn cách chúng ta?

Lấy ví dụ, không gian vời vợi giữa 2 nơi ta sống

Thì đã có internet, có cell phone, có webcam truyền hình ta chuyển động

Nhưng vẫn thiếu tính người

Giả sử rằng ta tìm đến bên nhau

Ngồi cạnh nhau trong công viên đầy nắng

Thì những cách ngăn sẽ lại là

Ký ức đã qua, tương lai sắp tới

Là hoài bão lớn lao, hay viễn cảnh mịt mờ

Giả sử rằng ta sẽ chỉ sống với phút hiện tại này

Và bắt đầu hỏi han những điều thường ngày trong cuộc sống

Thì cái cách ngăn sẽ lại là giọng ta Trung-Nam-Bắc

Là câu trả lời, là lời nói vô tri.

Giả sử rằng ta sẽ lặng im,

Giữ tay nhau, trong bàn tay che chở

Thì điều cách ngăn ta sẽ là nữ là nam, là phong tục, là thành kiến

Là rối ren tình bạn tình yêu nhập nhoạng nhập nhằng

Liệu có lúc nào chúng ta dở bỏ được những thứ ở giữa chúng ta

Nhấc lên, vứt đi, tất cả những gì không thuộc về nội tâm khao khát

Ở cạnh nhau chỉ với “tính người” hồn nhiên nhất

Sẻ chia với nhau sự hiện diện của chính mình.

Liệu có lúc nào ta sẽ THẤY được nhau?…

15/1/2010

Đây có phải là cuộc đời

em đã sống ngày hôm qua?

Vì bỗng dưng em ngỡ ngàng nhận ra

có điều đó đang thay đổi:

Gió nhẹ hơn, và bầu trời cao vọi

Lòng em như dòng nước

trong và yên.

Giữa những mặt người em mới gặp lần đầu tiên

tiếng đàn guitar, và bàn tay nghệ sĩ

em không còn nhìn thấy những điều phi lý

chỉ có tiếng đàn và bình yên thăng hoa

Rồi khoảnh khắc này cũng sẽ mãi rời xa

Chìm khuất vào bao tháng ngày tẻ nhạt

Nhưng em biết mỗi khi lòng mình hoài nghi, lạnh lẽo

Em còn có chút ký ức này nâng niu trong tay

Anh ơi, xin hãy ngồi xuống đây

bên em,

và chia sẻ phút giây này vĩnh cửu

ai có thể sống hai lần

của cùng một giây phút

ta đang sống, đúng không?

(Viết cho buổi sáng bình yên nhất trong đời)

Ở thành phố nọ, mọi người đều phải đi. ấy là cuộc sống của họ. Họ đi từ đầu này thành phố sang đầu bên kia, rồi lại quay lại. Có điều kỳ lạ là, dù chỉ có đi mỗi 2 chỗ ấy, họ vẫn muốn là người đến trước tiên. Điều đó gây ra thật nhiều phiền toái, vì con đường thì cũng không rộng cho lắm, mà người thì lại đông, thành ra mọi người chen lấn, xô đẩy nhau, cả gào thét và chửi rủa những kẻ chậm chạp ở trước mặt. Khi tới được đầu bên kia, họ lại vội vã quay lại, và đi về đầu bên này. Những ai chậm chân, hoặc bị xô đẩy đến mệt mỏi, thì có thể ngồi nghỉ trên những bãi cỏ xanh mướt, dưới những tán cây rộng, bên cạnh những vườn hoa, ở hai bên đường, cho đến khi thấy khỏe khoắn và có thể tiếp tục đi. Nhưng chả mấy ai ngồi nghỉ. Những người-đi, gọi những người-ngồi là kẻ lười biếng, và khinh bỉ ra mặt. Thành ra, có những người cũng rất thích ngồi, nhưng lại sợ người ta bảo mình lười, nên cứ cố mà đi, vừa đi vừa luôn mồm rên rỉ.

Ngày nọ, có một người lạ từ thành phố khác tới. Ban đầu, anh ta tưởng mọi người đang tổ chức lễ hội và đang chơi một trò chơi tập thể nào đó, nên thích thú theo dõi. Được một lúc, anh phát hiện ra họ chẳng chơi bời gì cho vui vẻ, vì thấy ai cũng cau có và la hét luôn mồm. Ngạc nhiên về hành động kỳ lạ này của dân địa phương, anh hòa vào dòng người, để hỏi cho ra lẽ.

– Anh ơi, anh đang đi đâu đấy? Người lạ gào lên (để át tiếng gào thét và chửi rủa đang vang lên khắp xung quanh), hỏi một thanh niên đang đi rất hăng hái.

– Tôi đi đến đầu bên kia thành phố. – Chàng trai trả lời.

– Anh đi đến đấy làm gì cơ?

– Tôi đi đến đấy, để rồi còn quay lại đầu bên này.

– Rồi sau đấy thì sao?

– Rồi tôi lại đi qua đầu bên kia.

– Mà làm sao anh lại phải đi như thế?

– Thì phải đi thôi, chứ có làm sao đâu!

– Nhưng sao anh lại phải đi, ý tôi là thế?

– Anh có bị dở người không mà hỏi một câu đần thế!

Nói xong người kia vội vã đi nhanh hơn, mong bù lại thời gian đã mất cho kẻ đần vừa nãy. Vừa đi y vừa lầu bầu:

– Thật phí thời gian, hắn không thấy là mình đang rất bận à. Thật là một kẻ không ra gì, khi làm phiền người khác nhiều như thế!

13/1/2010

Ghi chép

Bà nói chậm rãi, nhẩn nha, như thể muốn cô phải khúm núm như thế lâu hơn một chút. Bởi vì bà biết, khi bà kết thúc cái mệnh lệnh đó, và khi cô “thưa vâng” thì bà không còn quyền hạn gì với cô nữa cả.

Đỗ Minh Tuấn

Nguồn: viet-studies

Giai thoại Trạng Quỳnh dùng mười đầu ngón tay vẽ mười con giun để chiến thắng trong cuộc thi vẽ con vật sau ba hồi trống có ẩn chứa mã số của trí khôn ngoan ứng xử Việt nam. Bản chất văn hóa của của chiêu thức đó là gì? Trong thời đại đổi mới và hội nhập có thể áp dụng những trí khôn kiểu Trạng Quỳnh để đưa đất nước đi lên không, hay đã đến lúc phải nói lời chia tay với thói biến báo linh hoạt kiểu khôn vặt đó?

Trò khỏa thân trí tuệ thông minh

Không phải ngẫu nhiên mà bao đời nay người dân Việt Nam lưu truyền giai thoại vẽ giun với một nụ cười khóai trá đầy hãnh diện trước giải pháp thông minh của Trạng Quỳnh khi giải bài toán các vua chúa đặt ra. Đây là một thắng lợi văn hóa đích thực, tôn vinh trí tuệ dân gian, cho phép người nông dân cười giễu tinh thần hàn lâm kênh kiệu của đám vua quan và nho sỹ khinh dân. Trạng Quỳnh nhúng mười đầu ngón tay vào nghiên mực không chỉ để vẽ giun, mà chính là để bôi xóa giễu cợt những quy phạm của triều đình, giống như đám trẻ con say mê graffic thích vẽ nguệch ngoạc lên tường những chỗ trang nghiêm nhất để khẳng định mình. Nhưng khi vẽ giun Trạng Quỳnh không phải là tín đồ của văn hóa Hip-hop chơi trò chơi “mỹ thuật tội lỗi” của đám người trẻ tuổi hôm nay, mà ông đã chơi trò khỏa thân trí tuệ một cách hợp pháp để lỡm những thế lực ra đề thi, lỡm cả những thí sinh thật thà chúi mũi vào vẽ những con rồng con phượng phức tạp, nhiêu khê.

Thế nhưng, chiến thắng của Trạng Quỳnh là một thắng lợi chính trị chứ không phải là một kỷ lục văn hóa. Trạng Quỳnh buộc những người tổ chức cuộc thi phải trao giải nhất cho mình vì ông biết tấn công vào cách ra đề mơ hồ của họ. Đây là chiến thắng của ông Trạng có tài biến báo ngôn từ, chứ không phải chiến thắng của ông Trạng có tài hội họa. Nếu đề ra yêu cầu vẽ con vật cụ thể nào đó sau ba hồi trống, thì Trạng Quỳnh không thể sử dụng sự láu cá của mình để giành phần thắng. Bí quyết của chiêu thức vẽ giun là cụ thể hoá theo hướng đơn giản đến cùng cực bài toán văn hóa để có thể hoàn thành nhanh nhất, giành lấy phần thắng. Có thể nói, giai thoại vẽ giun với nụ cười thỏa mãn của dân gian tiềm tàng trong đó cũng vô tình là lời tự thú về bản chất đơn giản hoá của tính linh hoạt Việt Nam.

Căn nguyên văn hóa của chiêu thức Trạng Quỳnh

Người Việt có lẽ là dân tộc linh hoạt nhất. Tính linh hoạt Việt Nam thường được trình bày như là một phẩm chất mang bản chất sáng tạo và phản giáo điều. Điều đó về cơ bản đúng, nhưng không bao quát hết bản chất văn hóa và tính chất hai mặt của phẩm chất này. Bản chất của tính linh hoạt đó là văn hoá Việt tạo cho mỗi cá nhân trong cộng đồng một khoảng trống tự do sáng tạo và định hình cái chung, tạo cho con người Việt nam một khoảng không bao la để triển khai sáng tạo cá nhân tham góp nhân cách và trí tuệ của mình vào tiến trình cụ thể hoá các chuẩn mực xã hội.

Trong đời sống, người Việt coi trọng tinh thần cụ thể. Thái độ coi trọng cái cụ thể xuất phát từ văn hóa trọng tình. Với người Việt, mỗi con người cụ thể, mỗi đồ vật cụ thể là một thế giới độc nhất vô nhị không thể nào thay thế cho nhau vì mỗi người mỗi vật đều bắt rễ sâu vào tình cảm cộng đồng theo một cách riêng. Vì thế, thằng Bờm lưu luyến mãi cái quạt mo cụ thể của mình kiên quyết không đổi cho phú ông lấy ba bò chín trâu xa vời trừu tượng. Bờm chỉ chịu đổi khi phú ông đưa ra một nắm xôi cụ thể gần gũi, nó có thể cầm ăn. Ca dao Việt Nam có không ít những câu khuyên con người ứng xử linh hoạt theo từng tình huống cụ thể. Phương châm “TÙY” “LỰA”, “LIỆU” ( “Tuỳ mặt đặt tên, tuỳ tiền biện lễ”, ” Lựa lời mà nói”,”Lựa gió xoay chiều”, “Liệu bò đo chuồng”, “Liệu cơm gắp mắm”…) là phương châm sống có bản chất thích nghi với cái cụ thể. Mỗi cá nhân phải tự mình thăm dò từng cái cụ thể để sáng tạo ra những giải pháp, nhưng ứng xử phù hợp nhất. Văn hoá Việt không áp đặt chi tiết những quy chuẩn đạo đức và thẩm mỹ, nó nhường cho cá nhân, cho khu vực địa lý và cho giới tính những mảnh đất sáng tạo riêng và chịu trách nhiệm với sáng tạo này.

Trong nghệ thuật, người Việt cũng giành cho cá nhân quyền sáng tạo tối đa trong những không gian ước lệ, những quy ước thoáng đãng. Người diễn viên trên sân khấu chèo là phù thuỷ không gian, anh ta làm công việc cụ thể hoá không gian trong dòng chảy thời gian. Anh ta vừa mới chia tay người yêu ở sân đình, lượn một vòng với vài câu hát và điệu múa, không gian ấy đã trở thành biển cả, núi cao. Theo động tác, lời ca, cái không gian cụ thể được cất giấu, tàng hình bỗng hiện diện sinh động trước mắt ta trên cái nền trắng của khoảng không ước lệ. Người nghệ sĩ Việt Nam khi chơi đàn trong dàn nhạc cũng có một khoảng tự do riêng như vậy-anh ta không bị câu thúc bởi các qui định chi tiết của tổng phổ như các nghệ sĩ phương Tây trong truyền thống của họ. Anh ta tuỳ ý biến báo, luyến láy, cụ thể hoá để bằng trực giác nghệ thuật tham góp vào âm thanh tổng thể của cả dàn nhạc. Tính ước lệ của tư duy nghệ thuật đã tạo khoảng không gian thoáng đãng cho người nghệ sĩ cụ thể hoá một cách sáng tạo, mỗi lúc một khác tuỳ theo cảm hứng, trực giác. Trực giác nghệ sĩ đã giúp anh ta thăm dò mỗi khoảnh khắc để tìm ra câu trả lời cụ thể cho giải pháp nghệ thuật. Cũng như trong cuộc đời không có mệnh lệnh chung, không có câu trả lời chung, có lý nhưng có tình, phép vua thua lệ làng – người nghệ sĩ Việt nam chỉ bị ràng buộc bởi những điểm hẹn nơi hội tụ những tự do sáng tạo cá nhân cho một hiệu quả chung.

Chính quyền năng tự do sáng tạo cái cụ thể mà văn hóa Việt đã trao cho mỗi cá nhân ấy đã trở thành cái xung năng văn hóa dẫn đến chiêu thức vẽ giun của Trạng Quỳnh. Như một nghệ sỹ chèo dùng vũ đạo cụ thể hóa khoảng không sân khấu thành núi non sông nước, Trạng Quỳnh đã dùng những ngón tay thay bút cụ thể hóa đề thi trừu tượng thành những con giun.

Phải tra vấn truyền thống linh hoạt biến báo

Bí quyết Trạng Quỳnh quả là đã từng phát huy tác dụng trong lịch sử. Trong các cuộc chiến tranh giành độc lập, để huy động sức mạnh toàn dân, chúng ta phải đơn giản hoá lý tưởng, cụ thể hoá các nhiệm vụ chính trị quân sự, loại trừ tối đa tính chất lý thuyết suông và mọi cách hình dung vấn đề quá phức tạp, cao siêu. Nhưng bí quyết Trạng Quỳnh cũng có mặt trái của nó là: thói quen cụ thể hoá, đơn giản hoá đã trở thành một truyền thống linh hoạt mang tính vô nguyên tắc, vô chính phủ, cản trở sự phát triển của tư duy khoa học và các quan hệ hợp tác quốc tế vì những mục tiêu chung. Tư duy khoa học đòi hỏi sự tôn trọng và hiểu biết lý thuyết trong tính trừu tượng và tính tổng thể phức tạp của nó. Hợp tác quốc tế đòi hỏi thái độ tôn trọng luật chơi, và thiện chí trong quá trình cụ thể hoá, chi tiết hoá những điều thoả thuận. Trên thực tế tính linh hoạt Việt Nam đã nhiều khi dẫn dến các hành vi phá huỷ hệ thống để thắng trong chi tiết. Chàng Trạng Quỳnh đối phó với vua quan phong kiến có thể cười ngạo nghễ vì chiến thắng vẽ giun trong cuộc thi tài. Nhưng những chàng Trạng Quỳnh trong các cuộc đua tài quốc tế có thể nào giành chiến thắng chỉ bằng cách đơn giản và linh hoạt theo kiểu mua đề thi, quay cóp hay mua giò đội bạn được không? Hơn thế nữa còn giễu cợt tinh thần chuyên môn và sự thật thà tuân theo quy chuẩn?

Không phải ngẫu nhiên hiện nay chúng ta đang gắn tính linh hoạt truyền thống với thái độ khôn vặt cần phải vượt qua. Khi Trạng Quỳnh cụ thể hoá đề thi theo hướng đơn giản nhất, dễ làm nhất để chiến thắng, ông đã bộc lộ trí thông minh dân gian trong việc lố bịch hoá những thách đố của quyền lực phong kiến. Nhưng chiến thắng đó dễ dãi. Nếu như Trạng Quỳnh vẽ được mười con rồng trong ba hồi trống thì chiến thắng vẻ vang hơn, nó bộc lộ tài năng đích thực của con người khi giải quyết những bài toán hóc búa nhất trong đời sống bằng trình độ chuyên môn cao. Chúng ta vẫn có thể vui và tự hào với chiến thắng của Trạng Quỳnh như một chiến thắng chính trị trong đấu tranh giai cấp, nhưng chúng ta cần giáo dục thái độ dũng cảm dám đối diện, đối đầu với những bài toán hóc búa nhất, phức tạp nhất của lịch sử và văn hoá. Nghĩa là phải tra vấn chính bản thân truyền thống linh hoạt của chúng ta để vươn lên một đức hạnh cao hơn, một linh hoạt có tầm khoa học và có tầm nhân loại. Thậm chí, biết dừng lại, biết thua, biết nhẫn nhục để tiếp tục tích luỹ, học hỏi, tìm hiểu bài toán khó đó sẽ đưa chúng ta đến những cơ hội chiến thắng vẻ vang hơn và thuyết phục hơn. Nếu chỉ tìm cách thắng bằng mọi giá sẽ dẫn đến huỷ hoại tư duy khoa học, đánh tráo đề thi và phá hoại luật chơi.

Truyền thống linh hoạt mang tính cụ thể hoá và đơn giản hoá không chỉ tiềm ẩn những yếu tố gây ra những xung năng phản phát triển trong văn hoá, mà có thể còn làm phân hoá cộng đồng trong xu hướng cá thể hoá, gây mất ổn định về chính trị và kinh tế. Xu hướng linh hoạt, cụ thể hoá và đơn giản hoá để thắng bằng mọi giá sẽ trở thành lực ly tâm lớn nhất chi phối trong chiều sâu tâm thức. Những biểu tượng chung, những giá trị chung những phẩm chất chung, những chiến lược chung, những nhiệm vụ chung khi đi vào thực tế cuộc sống dễ bị tính linh hoạt truyền thống phân huỷ biến thành những nhiệm vụ đơn giản, những lợi ích cá nhân do mỗi người mỗi nơi lại “tuỳ”, “lựa”, “liệu” theo cách của mình, đơn giản hoá nhiệm vụ theo sở thích riêng và thế mạnh riêng, dẫn đến tình trạng chuyển động Braonơ trong toàn xã hội. Truyền thống linh hoạt sáng tạo biện minh cho sự phá huỷ lý thuyết, phá huỷ chiến lược và phá huỷ tổ chức. Lợi ích cá nhân phá huỷ lợi ích chung. Đó là cấu trúc bề sâu của tình trạng tham nhũng, hỗn loạn, bán lẻ đất nước, địa phương chủ nghĩa, cơ hội và vọng ngoại khá phổ biến hiện nay./.

BÙI CHÍ VINH

(Sau một ngày thống kê một cách khách quan những bi hài kịch thời sự nóng hổi)

Chào một ngày giống hệt mọi ngày

Sóng truyền hình phủ toàn phim Trung Quốc

Từ HTV, VTV, BTV, Đồng Nai, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Cà Mau… cho đến “cáp”

Hết “Triều Đại Mãn Thanh” đến “Đại Tống Truyền Kỳ”

Chào một ngày giống hệt mọi ngày

Đọc báo thấy cha ông mất hút

Thấy thiên hạ quỳ mọp dưới tượng đài Binh Pháp Mặc Công, Ngọa Hổ Tàng Long, Họa Bì, Xích Bích…

Con nít thuộc lòng Hoắc Nguyên Giáp, Hoàng Phi Hồng, Diệp Vấn, Diệp tùm lum hơn thuộc sử Tiên Rồng

Chào một ngày đất nước tự lưu vong

Cội rễ văn hiến 4000 năm trốc gốc

Tuổi teen gối đầu giường Lý An, Ngô Vũ Sâm, Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca lạ hoắc

Pano giăng khắp nơi hình ảnh Củng Lợi, Chương Tử Di, Thành Long phơi phới toét miệng cười

Chào một ngày phát triển giống đười ươi

Đi trên xã tắc thấy người thua xa khỉ

Thấy lô cốt ngáng đường, thấy nước ngập tận mông, thấy thánh hiền sợ quỷ

Thấy truyền thống chống ngoại xâm co rúm lại vì… tiền

Chào một ngày vong bản vì… hèn

Sống chết mặc bây, túi thầy vô cảm

Ải Nam Quan nằm ngoài ranh giới Việt Nam, xưa rồi Diễm…

Nước mắt Nguyễn Trãi khóc Nguyễn Phi Khanh rơi ở tận… nước Tàu

Chào một ngày bãi biển hóa nương dâu

Thác Bản Giốc rời Cao Bằng như có cánh

Thắng cảnh để lại của tiền nhân bị cháu con ghẻ lạnh

Các di tích, kỳ quan cứ mất tích đều đều

Chào một ngày hình chữ S tong teo

Tài nguyên bôxit bị bới đào như… bọ xít

Nhôm và đô la chẳng thấy đâu, chỉ thấy đất Tây Nguyên rên xiết

Ô nhiễm mạch ngầm, nước sông làm nghẹt thở Chín Con Rồng

Chào một ngày long mạch bị xới tung

Máu bầm đất đỏ bazan, máu tràn ra hải đảo

Ai cho phép Hoàng Sa Trường Sa thành Tam Sa lếu láo

Tội nghiệp rừng cọc nhọn của Hưng Đạo Đại Vương trên sóng Bạch Đằng

Chào một ngày giống hệt cõi âm

Những xác chết anh hùng bật dậy

Máu trả máu, đầu trả đầu. Nhớ đấy

Mãi quốc cầu vinh tất quả báo nhãn tiền

Chào một ngày soi rõ mặt anh em!

21 – 4 – 2009 BÙI CHÍ VINH

“Văn hóa đọc”, đó là một khái niệm có vẻ nhhư tời thượng, khi người ta muốn nói đến việc công chúng đọc cái gì, đọc ra sao, đọc như thế nào, xu hướng đọc…

Để có được những “bồ chữ” cỡ như Lê Văn Siêu, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến… nếu không đọc và học, làm sao có? Một vị giáo sư nổi tiếng trên bất kỳ lĩnh vực nào, nếu muốn tiếp xúc được với nhiều tầng lớp công chúng, vị đó phải có tầm văn hóa.

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, thực ra chỉ là một vị bác sĩ, nhưng ông nổi tiếng như là một nhà hoạt động văn hóa. Giáo sư Hoàng Tụy, một nhà toán học nổi tiếng thế giới, nhưng ông cũng là một nhà giáo dục có tầm chiến lược… Những dẫn chứng như vậy còn rất nhiều. Để có được tầm văn hóa ấy, vấn đề đơn giản nhưng không phải ai cũng có thể làm được: Đọc và học.

Văn hóa đọc?

Trong cuộc hội thảo “Đọc: Thói quen hay văn hóa?” được tổ chức vào ngày 13-5-2008, ông Antonio Berebguer, Bí thư thứ nhất phái đoàn châu Âu tại VN, có phát biểu đáng suy nghĩ: “Giữa căn phòng trong ngôi nhà tôi ở Tây Ban Nha là một kệ sách lớn. Còn trong hầu hết những ngôi nhà ở VN, trung tâm căn phòng là chiếc tivi màn ảnh phẳng to đùng!”.

Hình như ông Berebguer nói đúng thực tại của chúng ta. Hẳn bạn cũng thấy hình ảnh những du khách nước ngoài trên các chuyến tàu xuyên Việt, hoặc tại nhà chờ ở các sân bay, nếu không ngủ, trên tay họ luôn luôn có cuốn sách và họ đọc không ngơi nghỉ. Còn những hành khách VN? Họ ngủ, hoặc trò chuyện, hoặc ngồi đăm chiêu suy tư, ngó ngu ngơ ra cửa sổ con tàu. Trong những quán ăn ở TPHCM, Hà Nội, chắc chắn bạn thường bắt gặp hình ảnh những du khách nước ngoài ôm sách vừa đọc vừa ăn…

Hình ảnh những ông, bà Tây ôm sách đọc cũng dễ dàng nhận thấy ở trên những ga metro, trên những chuyến tàu tốc hành ở châu Âu và cả ở Nhật Bản. Nếu so sánh những hình ảnh ấy với thói quen của người Việt chúng ta, hình như chúng ta chưa có văn hóa đọc!?

Nhu cầu của mỗi cá nhân.- Mỗi cá nhân có những nhu cầu riêng, phù hợp với công việc, sở thích, cá tính.

Cho nên, cũng không thể nói người Việt không có văn hóa đọc. Nhiều người có nhu cầu đọc như thở và ăn uống mỗi ngày. Nhưng cũng có nhiều người không có nhu cầu đọc, trong nhà họ bạn không thể tìm thấy một cuốn sách hoặc tờ báo nào. Đó là thực tế.

Trong cuộc sống của con người, ngoài nhu cầu thỏa mãn về vật chất, còn có nhu cầu thỏa mãn về tinh thần. Nhu cầu thỏa mãn về vật chất luôn luôn có hạn, còn nhu cầu thỏa mãn về tinh thần gần như vô tận, bởi kiến thức, văn minh, văn hóa của nhân loại là vô tận.

Điều gì ẩn chứa trong từng cuốn sách mà hấp dẫn bạn đọc trẻ này đến vậy? Ảnh: P. Quyên

Chúng tôi đã từng biết những người già khi về hưu suốt ngày ôm sách, hỏi họ vì sao lại mê sách khi về già, câu trả lời đơn giản: Khi còn đi làm, không có thời gian đọc, chỉ đọc những vấn đề về chuyên môn, còn bây giờ đọc những sách triết học, văn học… thấy hiểu biết của mình còn khiêm tốn quá, và cảm thấy cái gì cũng muốn đọc… Câu hỏi rất dễ thương khi bạn còn nhỏ đã biết, nay hình như được lặp lại trong tâm thức bạn: “Điều gì ẩn chứa trong từng cuốn sách mà hấp dẫn ta đến vậy?”…

Đó là thực tế của cuộc sống. Nhưng đọc cũng phải biết cách đọc. Ông trùm máy tính Bill Gates có nói: “Đọc sách cũng là một kỹ năng”. Đã là “kỹ năng” thì phải biết rèn luyện để tạo nên kỹ năng đó. Muốn có kỹ năng, trước hết phải tập thói quen đọc. Có thói quen rồi, mới rèn luyện kỹ năng, tiếp đến mới tìm phương pháp đọc. Tùy theo mục đích đọc, người đọc có những phương pháp đọc khác nhau.

Nguyễn Hiến Lê, một học giả nổi tiếng để lại cho cuộc đời nhiều tác phẩm hữu ích, thực ra ông không học nhiều ở trường lớp, mà chủ yếu là tự học. Gương tự học của Nguyễn Hiến Lê rất đáng nể, ông có thói quen đọc một vấn đề nào đó đều đọc rất kỹ, ghi chép tỉ mỉ, cẩn trọng, điều gì chưa hiểu, ông ghi ra để tìm cách hiểu cho được. Và một phương pháp khó có thể học được ở Nguyễn Hiến Lê là đọc lĩnh vực nào đó, để tự học tốt nhất, ông viết sách về vấn đề đó! Đó là cách đọc của một học giả đáng kính.

Chúng ta đang đọc gì?

Những người băn khoăn cho rằng văn hóa đọc của ta đang xuống cấp. Họ có cái lý của họ, khi khảo sát số liệu thống kê sau của Cục Xuất bản: Một người VN đọc được 2,9 và 7,07 tờ báo/năm. Các loại sách được đọc nhiều nhất gồm: truyện tranh 60%, truyện ngắn 50%, truyện dịch 35%, tiểu thuyết 30%… Thống kê đó cho thấy, truyện tranh được nhiều người đọc nhất và tất nhiên phần lớn độc giả là trẻ em.

Các nhà nghiên cứu cần quan tâm đến số liệu này để xây dựng nền tảng văn hóa đọc cho các em ngay từ nhỏ, nhưng rất tiếc, thị trường truyện tranh hàng ngoại đang lấn át hàng nội. Đó cũng là vấn đề đang được đặt ra cho công tác xuất bản.

Văn hóa đọc không bao giờ chết, bởi con người luôn khát khao văn hóa, kiến thức. Nhìn vào doanh thu từ bán sách ở nước ta mỗi năm hơn 1.000 tỉ đồng, cho thấy sức đọc của người Việt là có. Ngay ở Hội sách TPHCM lần 5 vừa qua, có đến hơn nửa triệu người tham gia, với doanh thu hơn 15 tỉ đồng, cho thấy văn hóa đọc có sức sống riêng của nó.

Thời đại đa truyền thông như hiện nay, có người lo ngại internet chi phối văn hóa đọc, nhưng theo chúng tôi đó là sự chi phối tích cực. Đọc trên mạng hay đọc sách đều như nhau. Sách trên mạng ngày càng phong phú, đa dạng nhưng bạn đọc cũng dễ lạc lối. Điều đó là đương nhiên, vì trên mạng không gian như vô tận, khó kiểm soát chất lượng.

Vấn đề còn lại của chúng ta là làm sao xây dựng cho được một văn hóa đọc lành mạnh. Vấn đề này có thể từ nhà trường, gia đình và cả xã hội. Việc lựa chọn những tác phẩm hay, xuất sắc của nhân loại để xuất bản là vấn đề then chốt, để định hướng văn hóa đọc cho công chúng. Và trên hết, mỗi cá nhân phải hiểu rằng nhu cầu đọc – một nhu cầu tinh thần, sẽ góp phần xây dựng nên tính cách, nhân phẩm và cả tương lai của chính bạn.

LÊ NGA HUYỀN

Tác giả – tác phẩm – công chúng, đó là cái tam vị tạo nên sự nhất thể cho đời sống của nghệ thuật. Ba yếu tố này ràng buộc lẫn nhau, chế định lẫn nhau, đặt điều kiện cho nhau trong suốt chiều dài lịch sử của bất cứ một nền nghệ thuật nào. Nói cách khác, chúng ngang bằng nhau về vai trò thực tiễn trong sự tạo lập đời sống nghệ thuật.

Tuy nhiên, ở nền văn học nghệ thuật của chúng ta hiện nay, hình như lại đang diễn ra sự khuếch đại một cách quá mức vai trò của yếu tố công chúng. Trong văn chương, khi tỏ ra ngờ vực giá trị thực sự của các giải thưởng “quốc nội” lớn nhỏ, không ít nhà văn đã đề nghị gạt các tác phẩm được giải sang một bên để chọn các tác phẩm có lượng phát hành cao. Như vậy, chuẩn cứ để xác định giá trị của tác phẩm văn chương không phải là giải thưởng, mà là số lượng ấn bản và số lần tái bản – những thông số này cho phép chúng ta hình dung về độ ấm lạnh trong tiếp nhận của công chúng đối với tác phẩm. Trong điện ảnh, đang dấy lên làn sóng thực hiện những bộ phim ăn khách. Với tuyên ngôn “Phim là để giành cho khán giả”, người ta dường như tìm thấy giá trị của tác phẩm điện ảnh từ lượng vé bán ra, từ tổng doanh thu, từ lãi sau khi đã trừ tất cả các khoản chi phí – tóm lại là từ con số khán giả đến rạp xem phim. Trong âm nhạc, tình hình cũng tương tự. Thông qua các cuộc bình chọn ý kiến khán thính giả (đang nhiều lên như nấm mọc sau mưa), người ta sẽ biết những ca khúc nào thuộc vào hàng Top – hit, những tác giả nào là nhạc sĩ ăn khách, những giọng ca nào đang là ca sĩ thời thượng, là “sao”. Đó là những giá trị, và ngoài những giá trị ấy tất cả những gì còn lại của âm nhạc dường như đang bị coi là thứ yếu…
Chỉ lấy ví dụ từ ba ngành nghệ thuật là văn chương, điện ảnh và âm nhạc, có lẽ cũng đủ thấy rằng hiện đang phổ biến một xu hướng coi công chúng như đại lượng duy nhất để đo lường giá trị của tác giả, tác phẩm nghệ thuật. Cần phải nhìn nhận hiện tượng này ra sao? Nên mừng hay nên lo đây?
Trước hết hãy xét vấn đề từ yếu tố tác giả. Vì những lí do gì mà người nghệ sĩ bắt tay vào công việc viết văn, soạn nhạc, vẽ tranh, nặn tượng, làm phim v.v…? Nếu loại trừ nhu cầu kiếm sống hoặc sự khát khao tìm kiếm tên tuổi, thì chỉ còn lại hai lí do cơ bản. Thứ nhất, đó là nhu cầu được giải phóng những trăn trở, những vật lộn tìm tòi của người nghệ sĩ trước các vấn đề của đời sống và của bản thân nghệ thuật. Và sau đó, thứ hai, là nhu cầu được cộng thông chia sẻ, được khuếch tán và phổ biến những trăn trở, những vật lộn tìm tòi ấy trong cộng đồng – tức là nhu cầu có công chúng nghệ thuật. Hai lí do này có sức mạnh tất yếu ngang nhau trong quá trình sáng tạo. Nếu không xuất phát từ lí do thứ nhất thì dù có là nghệ sĩ thiên tài cũng không thể đẻ ra được tác phẩm nghệ thuật, có chăng chỉ là một loại “á nghệ thuật” mà thôi. Còn nếu không có lí do thứ hai, nếu người nghệ sĩ tin chắc rằng mình sẽ không có lấy nổi một công chúng – bây giờ cũng như mai sau – hoặc anh ta vốn không cần ngó ngàng tới công chúng, thì đơn giản là anh ta sẽ chẳng sáng tạo làm gì! Đã rõ, không nghệ thuật nào là nghệ thuật không cần tới công chúng. Nhưng công chúng nào, và cần phải ứng xử với công chúng theo cách nào, thiết nghĩ, đó mới thực là điều quan trọng.
Chúng ta thường có thói quen nhận xét về công chúng theo kiểu “túm một mớ”, rằng công chúng thế này rằng công chúng thế kia. Nhưng thực tế là, trong công chúng, anh A khác anh B có khi một trời một vực. Nói cách khác, có những sự phân hóa trong công chúng của nghệ thuật, có thể đó là sự phân hóa về tuổi tác, giới tính, ngành nghề, quan điểm xã hội, quan điểm thẩm mĩ v.v và v.v… Tôi muốn nhấn mạnh đến sự phân hóa về trình độ nhận thức thẩm mĩ. Và theo lằn ranh giới (không phải bao giờ cũng dứt khoát) này, có thể tạm nói đến hai loại công chúng nghệ thuật: công chúng tinh hoa và công chúng phổ thông. Công chúng tinh hoa là những người am hiểu nghệ thuật, họ được (hoặc tự) trang bị đầy đủ kiến thức để có thể tiếp cận tác phẩm nghệ thuật, nắm được nội dung, ý nghĩa, giá trị thẩm mĩ của nó một cách khá chính xác. Họ có khả năng phát hiện cái mới ở nó và cũng có khả năng phê phán nó, họ nhìn thấy quá trình sáng tạo âm thầm của tác giả và có thể đặt yêu cầu với anh ta ở quá trình tiếp theo… Còn công chúng phổ thông, đó là những người yêu nghệ thuật một cách bất tự giác, họ đến với nghệ thuật hầu như theo nhu cầu giải trí thuần túy. Họ có thể cũng có sự phẩm bình đánh giá tác phẩm, tác giả, song cơ bản thì đó là sự phẩm bình đánh giá thiên về cảm tính và theo “lẽ phải thông thường” (chữ của Engels). Sau khi đã phân loại để nhận diện hai kiểu công chúng này, phải nói ngay một đặc điểm rất quan trọng: quan hệ giữa công chúng tinh hoa và công chúng phổ thông là quan hệ giữa thiểu số và đa số, hơn nữa, nhận định của hai loại công chúng về nghệ thuật rất thường khi không trùng khít với nhau, nếu không muốn nói là hay trái ngược nhau! Đến đây, đã có thể tạm có câu trả lời cho xu hướng coi công chúng như đại lượng chuẩn để đo lường giá trị của tác giả, tác phẩm nghệ thuật: được số đông công chúng thừa nhận chưa hẳn đã là đủ điều kiện để tấn phong giá trị, nếu như số đông ấy chỉ gói gọn ở công chúng phổ thông. Thế mà, oái oăm thay, sự thực nhãn tiền ở nền văn học nghệ thuật của chúng ta hiện nay là như vậy: những bộ phim ăn khách, thu lãi suất cực cao là những bộ phim mà giới làm nghề và giới phê bình điện ảnh phải ngán ngẩm lắc đầu. (Nhưng không vì thế mà tất cả những bộ phim thua lỗ lại đều là những tác phẩm điện ảnh ở trình độ nghệ thuật cao. Nhiều đạo diễn Việt Nam thường đổ lỗi cho công chúng không đủ tầm để xem phim do mình mình làm ra – về lí thuyết thì có thể nói như vậy, nhưng với thực tế của phim Việt Nam thì tôi… không tin). Những ngôi sao ca nhạc, những Top – hit ca khúc do khán giả bình chọn chẳng mấy khi liên quan đến sự thẩm định của các hội đồng nghệ thuật gồm toàn những nhạc sĩ thành danh và đầy uy tín. Trong kiến trúc, người dân chỉ thích những kiểu công trình mà giới kiến trúc sư cực lực phản đối. Văn chương có khá hơn, song không phải cuốn sách nào có lượng phát hành cao cũng là cuốn sách được giới phê bình mặn mà… Tóm lại, khi chưa có sự phê chuẩn của công chúng tinh hoa, thì những giá trị có được từ sự thừa nhận của số đông công chúng là những giá trị hết sức bấp bênh và đáng ngờ. Và hiển nhiên, việc lấy số đông công chúng làm chuẩn cứ để định giá nghệ thuật là điều đáng lo hơn đáng mừng, bởi lẽ, nó tiềm tàng khả năng tạo ra sự “lộn sòng” giữa chân giá trị và ngụy giá trị trong nghệ thuật!
Thực ra, sự khuếch đại một cách quá mức vai trò của công chúng là một vấn đề có tính lịch sử trong đời sống nghệ thuật ở ta. Không nghệ thuật nào là nghệ thuật không cần tới công chúng – đây là nguyên tắc. Nhưng, trong tiến trình dân chủ hóa nghệ thuật, và đặc biệt, trong bối cảnh mà sản phẩm nghệ thuật cũng cần thiết phải trở thành hàng hóa, thì khái niệm “công chúng” trở nên khá chung chung. Có lẽ phải hiểu “công chúng” ở đây nghĩa là “đại chúng” – một đối tượng tiếp nhận nghệ thuật gần như trùng khít với cái gọi là công chúng phổ thông. “Nghệ thuật phục vụ đại chúng” – có một khẩu hiệu như vậy, và chính là với sự định hướng mang tính quyết định luận như vậy mà nền nghệ thuật Việt Nam đã vận động theo cách riêng của nó kể từ sau năm 1945 tới nay. Tôi muốn bàn kĩ hơn về từ “phục vụ”. Một cách đơn giản, có thể hiểu “phục vụ” là làm thoả mãn nhu cầu của đối tượng. Phục vụ nghệ thuật là làm thoả mãn thị hiếu thẩm mĩ của công chúng, ở đây ta đang nói về công chúng phổ thông. Vậy thì, để có thể phục vụ được công chúng phổ thông, người nghệ sĩ cần phải hiểu rõ công chúng muốn gì, cần gì, thích gì, và từ đó làm ra loại tác phẩm nghệ thuật phù hợp với cái muốn, cái cần, cái thích ấy. Có những nghệ sĩ không chút băn khoăn về chuyện này. Nhưng lại có không ít người cảm thấy bức bối: họ muốn có công chúng của mình, càng nhiều càng tốt (tất nhiên!), nhưng những tìm tòi trong lao động nghệ thuật của họ thì lại vượt quá kích cỡ thẩm mĩ của công chúng. Chỉ có hai giải pháp cho vấn đề này: thứ nhất, người nghệ sĩ phải “thu bé” mình lại, và thứ hai, anh ta cứ việc chường mình ra để rồi trở thành lạc lõng, thậm chí bị ghẻ lạnh – trường hợp của Nguyễn Đình Thi với sự thể nghiệm thơ không vần trong những năm đầu thời chống Pháp là một ví dụ khá điển hình, và đó cũng là trường hợp của Nguyễn Quang Thiều với lối thơ “như dịch mộc từ thơ Tây” vào đầu những năm 1990. (Nhà mĩ học tiếp nhận người Đức, Hans Robert Jauss, đã cho một lời đáp về hiện tượng này bằng khái niệm “tầm đón đợi” – khái niệm chỉ trình độ nhận thức của công chúng ở một thời điểm cụ thể: những tác phẩm nào vượt quá tầm đón đợi của công chúng khi mà nó xuất hiện thì thường phải chịu số phận như vậy). Nhìn nhận vấn đề một cách thật khách quan, có thể mạnh dạn nói rằng: mục đích sáng tạo nghệ thuật để “phục vụ đại chúng” – và chỉ thế thôi – chính là một trong những yếu tố ngăn trở năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ, ngăn trở khả năng nảy sinh cái mới trong nghệ thuật và là sức ỳ đối với tiến trình vận động của nghệ thuật.
Câu hỏi đặt ra là: vậy thì rốt cuộc người nghệ sĩ phải ứng xử với công chúng như thế nào? Tất nhiên phải hướng về công chúng, nhưng không phải là để “phục vụ” công chúng theo những quy tắc vàng của kinh tế thị trường mà chúng ta ai nấy đều thuộc lòng: “khách hàng là Thượng đế”, và, “bán cái khách hàng cần chứ không bán cái mà mình có”. Làm như vậy, người nghệ sĩ có thể trở thành một tác giả best seller trong văn chương, một nhạc sĩ thời thượng, một hoạ sĩ bán được nhiều tranh, một kiến trúc sư có nhiều đơn đặt hàng, một đạo diễn điện ảnh được nhiều hãng phim săn đón… nhưng trong tiến trình lịch sử của nghệ thuật, ít hy vọng anh ta sẽ để lại một dấu ấn tích cực nào. Bởi lẽ, đó là cách kéo tụt nghệ thuật xuống, thu hẹp nghệ thuật lại cho phù hợp với tầm vóc của số đông công chúng. (Vẫn có những tác phẩm thoả mãn được cả hai kiểu công chúng, do vậy nó vừa có giá trị thực, lại vừa ăn khách. Nhưng đó là số ít, rất ít). Thiên chức của người sáng tạo, có lẽ, trước hết là trung thành với những suy nghĩ trăn trở, những vật lộn tìm tòi của mình, và sau đó là dám chấp nhận trả giá vì nó. Nhà văn Pháp Alain Robbe Grillet – chủ soái của “Tiểu thuyết mới” – từng phát biểu: “Nhà văn sẽ là kẻ suy đồi khi mà trong lúc sáng tác anh ta còn nghĩ đến công chúng”. Dĩ nhiên không phải ông không cần đến công chúng – xin nhắc lại: không có nghệ thuật nào lại không cần tới công chúng – mà là ông đặt trọng tâm ở khả năng chiếm lĩnh những đỉnh cao nghệ thuật của người sáng tạo. Chỉ bằng cách liên tục chiếm lĩnh những đỉnh cao mới, nghệ thuật mới “phục vụ” công chúng có hiệu quả nhất. Hay nói cách khác, nghệ thuật phải làm được chức năng đào tạo công chúng: thay vì cách thoả mãn giản đơn cái thị hiếu thẩm mĩ hiện có của công chúng, người sáng tạo nghệ thuật phải bằng tác phẩm của mình mà “nâng cấp” thị hiếu ấy, đưa nó vượt ra khỏi giới hạn của thói quen tiếp nhận đã ổn định. Đây cũng là quan điểm của mĩ học tiếp nhận: việc liên tục điều chỉnh tầm đón đợi của công chúng chính là yếu tố tác động trực tiếp tới sự phát triển của nghệ thuật, và là bản thân sự phát triển ấy.
Nếu có phải nói thêm gì đó trong bài viết này, tôi muốn được bày tỏ sự… thất vọng của mình: chúng ta chưa có một tầng lớp công chúng tinh hoa thực sự! Công chúng tinh hoa ở lĩnh vực nghệ thuật này rất hay là công chúng phổ thông trong những lĩnh vực nghệ thuật khác: nhà văn thích chơi tranh sú- vơ- nia Bờ Hồ, nhạc sĩ xem phim video TVB, hoạ sĩ đọc truyện tình… hai xu rưỡi v.v… là chuyện chẳng hiếm. Do vậy, tôi cứ nhìn những nhân vật lịch lãm “cùng mình” trong thưởng ngoạn nghệ thuật như Milan Kundera hay Octavio Paz mà thấy phục sát đất. Cầm lòng vậy, đành lòng vậy…

 

HOÀI NAM

 

Nguyễn Ngọc Tư

Nhiều khi ớn chữ, tôi mua mấy tạp chí phụ nữ, thời trang về để… coi hình. Hững hờ để từng trang trôi qua tay mình, khuây khỏa được chút kia thì thương vương nỗi nọ. Mình không thể có trang sức này, quần áo này, bộ mỹ phẩm này hay cái túi xách, đôi giày này. Hoặc chúng quá hào nhoáng chỉ để trình diễn hoặc quá sang trọng, quý phái hoặc chúng quá đắt tiền. Giống như một mối tình không mơ mộng và hy vọng. Tôi nhớ tới má cùng chị, nghĩ, nếu cố gắng, mình cũng mua được một vài thứ bày biện trong tạp chí này để tặng hai người phụ nữ mình thương.

Và má tôi sẽ xòe bàn tay chai sần quắt queo của mình, để quy đổi giá tiền cái túi xách ra… lúa, ra mấy giồng cải, bàng hoàng biết nó giá trị hơn cả một vụ mùa. Chị tôi chắc cũng bẽ bàng, chẳng có đôi giày nào hợp với đôi chân héo thường xuyên dầm trong nước, chẳng có bộ trang phục nào chị mặc để bưng bê trong cái quán giải khát nhỏ xập xệ bên đường. Chưa kể nội dung, chỉ giá bìa thôi, tạp chí đã là một thứ xa xỉ, với đám đông kiếm sống vất vả, tảo tần như má, chị tôi.

Nhưng những tạp chí đó vẫn được người ta yêu thích. Những món hàng tinh tế, sang trọng, đắt đỏ và xa hoa vẫn được người ta mua. Cuộc sắm sửa của họ bình thản và nhàn tản như trẻ con mua viên kẹo, như tôi mua tờ báo, không một chút thắt lòng nào. Họ ít, nhưng là số-ít-gì-cũng-có.

Vài lần trong đời, tôi cũng đứng về phía số ít đó, nên sau này không còn cực đoan quay quắt khi nhìn những cái sân tennis của huyện lỵ nghèo. Tập thở đều khi qua những cao ốc sang trọng những resort thơ mộng, giữ nhịp tim không đổi khi đứng trước miên man cỏ mượt sân golf. Tự nhủ, mình chẳng có lỗi gì.

Tôi thật chẳng lỗi gì với bầy trẻ xóm chài kia, dù chúng không được vào cái bãi cát tuyệt đẹp mà tôi đứng ngắm biển chiều. Chỗ này ngày xưa, trước khi trở thành nơi nghỉ dưỡng cao cấp, đám trẻ đó đã từng chạy chơi. Và đứng ngoài rào, dì tôi sẽ không oán giận nếu tình cờ nhìn thấy đứa cháu ruột mình xênh xang trong một sân golf, nơi chỉ vài năm trước là mảnh ruộng của dì, cho đến một ngày dì bị bứt lìa đi, cỏ thay màu xanh của lúa. Không vì những điều như thế này mà người ta thôi sống và tận hưởng cuộc sống. Sáng nay tôi vẫn phải la cà quán xá dù ở miền quê xa xôi, bà ngoại tôi lụm cụm xách vài con tôm sú ra chợ xã bán, đổi chút tiền còm.

Cũng đành, tôi đang cố rời đi nhưng những người thân tôi vẫn ở lại giữa đám-đông-nhỏ-bé. Cố cân nhắc trong mớ vốn liếng tiếng Việt của mình, tôi tìm được một cụm từ vụng về, cũng giống như mọi người vẫn đang xốc xáo từ điển để chọn những chữ thật dịu dàng cho số đông thương khó này, để lẩn tránh không phải dùng hai từ “tầng lớp…”.

Những chuyên san phụ nữ và thời trang, chiếc Rolls-Royce, hay những sân golf là thí dụ. Chúng hiện diện, phát triển để chờ đợi người ta gọi đúng tên những khoảng cách đang ngày càng xa biệt.

Chỉ là đôi lần chạnh nghĩ, một người viết ít nhiều đa cảm như mình mà giờ giả vờ thản nhiên rời bỏ đám đông nhỏ bé, thì những người mang chức phận, thường rất lạnh lùng và tỉnh táo, họ đứng về phía số-ít-gì- cũng-có, cũng là lẽ đương nhiên. Và đương nhiên, đám đông bị quên lãng, bị đẩy dạt đến những bìa trời. Tan tác.

Họ có làm sao thì cũng không phải lỗi của tôi. Ừ, nào phải lỗi của tôi. Không phải đâu…

Lên trang này ngày 23-3-09
Dùng bản Tư gởi

Nguồn: viet-studies.info


Design a site like this with WordPress.com
Get started